Bảng mẫu tự tiếng Hàn

Giới thiệu về bảng mẫu tự Hàn quốc (Khả Nhi biên soạn)

Khi chúng ta nghĩ về 1 ngôn ngữ tượng hình (Hoa, Nhật, Hàn), một hình ảnh khó chịu sau sẽ hiện ra:


có hàng ngàn ký hiệu khó hiểu, và mỗi ký hiệu lại chính là 1 từ có nghĩa, thật khó khăn để ghi nhớ hết từng ấy kí hiệu để đọc hiểu sách báo. Việc học ngôn ngữ tượng hình vì vậy phải mất rất nhiều thời gian, công sức.

Tuy nhiên, tiếng Hàn quốc không khó học như bạn nghĩ… Vì sao?

Vì khác với tiếng Hoa và Nhật, tiếng Hàn có bảng mẫu tự rõ ràng, như bảng alphabet của mọi ngôn ngữ thuôc ngữ hệ Latin khác. Chúng ta sẽ bắt đầu từng bước làm quen với bảng chữ cái này nhé:

Bảng alphabet hàn quốc cũng như tiếng Anh, gồm có 2 loại : phụ âm và nguyên âm, chỉ khác là chúng kí hiệu bằng hình vẽ chứ không phải bằng mẫu tự a, b,c… Mà suy cho cùng, chữ cái latin cũng chỉ là những nét vẽ, vậy tại sao ta phải lo lắng nhỉ?

 : chữ này là 1 phụ âm, đọc là n (như name)
  Đây là 1 nguyên âm: đọc là ah, như khi ta la lên: aha

Khi ta ghép 1 phụ âm và 1 nguyên âm, ta sẽ có 1 âm tiết, giống y như tiếng việt, tiếng anh, các bạn sẽ thấy rất dễ dàng.

Âm tiết là đơn vị của từ ngữ. Âm tiết Hàn có những quy luật sau đây:

1. Bắt đầu bằng 1 phụ âm
2. Có ít nhất 1 phụ âm + 1 nguyên âm
3. Khi viết, mỗi âm nằm trong 1 hình vuông

Ví dụ, ta sẽ nhét 2 chữ phía trên vào 1 hình vuông: (n) và (ah), ta có âm  

Bạn nghĩ âm này sẽ đọc ra sao? Nếu bạn đọc là na, tức là bạn đã hiểu ra vấn đề rồi đó !

Bây giờ tôi cho bạn 2 phụ âm khác:

, đọc là m (mother)
, đọc là h  (hot)

Bây giờ bạn thử đoán xem: 3 âm dưới đây đọc như thế nào?
, , và 

Nếu bạn đọc là : ma, ha, na, bạn đã đúng rồi đó…

2 âm cuối khi ghép lại, chính là 1 từ có nghĩa trong tiếng Hàn: : ha-na, có nghĩa là: Một

Tặng bạn 1 phụ âm khác: được đọc như 1 âm trung gian giữa k ( king ) g (guess). chính phủ Hàn quốc quy định khi phiên âm ra chữ latin, sẽ dùng chữ g.

Trong tiếng Hàn, có 1 từ đọc là: gam, do ghép 3 kí tự lại:
Bạn sẽ thắc mắc: Như vậy đâu có phải là 1 hình vuông nữa?
Đúng thế, 3 kí tự này phải được nhét vừa khít vào 1 hình vuông khi viết, như sau:

Tới đây, bạn có thể thấy rằng học tiếng Hàn rất đơn giản, chỉ việc học thuộc các kí tự và học cách sắp xếp chúng sao cho vừa khít trong 1 ô vuông.

Chắc các bạn đã chán chữ a, vì vậy tôi giới thiệu với các bạn vài nguyên âm nữa:

, đọc là o (oh)
, đọc là u (moon).

Bạn chơi trò ghép hình vớI những thứ có nãy giờ, ta sẽ có:

 đọc là mok với âm o kéo dài, từ này có nghĩa là: cổ hay họng
: mun, có nghĩa là : cửa (môn)

Lúc này, bạn sẽ hỏi tôi: quy tắc sắp xếp những mẫu tự này vào ô vuông như thế nào, bạn hãy nhìn lại 2 từ trên, sẽ có câu trả lời, và nó khá dễ hiểu:

Việc sắp xếp này phụ thuộc vào nguyên âm
Nếu nguyên âm có dạng thẳng đứng như  (a), nó sẽ nằm bên phải phụ âm đi trước (bên phải ô vuông); còn nếu nguyên âm có dạng nằm ngang như  (o), nó sẽ nằm phía dưới phụ âm.

, từ này là 1 ví dụ cho kiểu sắp xếp này, có nghĩa là: chị, và đọc là nu-na

. 1 ví dụ khác, từ này có nghĩa là: cây, bạn có đoán được nó đọc ra sao không?

Khi bạn phân tích nó theo các quy luật đã học nãy giờ, bạn sẽ dễ dàng đọc là na-mu

n    a   m   una-mu, tức là cây

dễ quá phải không bạn?

Bây giờ ta sẽ đi sâu vào cách viết những chữ cái trong 1 ô vuông:


n
+

a
=

na

Âm tiết nào có 1 phụ âm và 1 nguyên âm “đứng”, nó sẽ viết như trên: phụ âm bên trái, nguyên âm đứng kế bên, bên phải.
m
+

o
=

mo

Âm nào có 1 phụ âm, và 1 nguyên âm “nằm”, nó sẽ viết như trên: nguyên âm nằm dưới phụ âm


m
+

a
+

n
=

man

hay:

m
+

o
+

k
=

mok
Âm nào có dạng: phụ âm-nguyên âm-phụ âm như ở trên, thì phụ âm cuối cùng sẽ nằm ngang ở dưới cái khối vừa tạo thành trước nó.Nãy giờ, ta chỉ bàn tới những âm bắt đầu bằng 1 phụ âm, trong tiếng hàn cũng có loại âm bắt đầu bằng 1  nguyên âm: o-hu
Người Hàn quốc sử dụng kí hiệu sau:  để coi như 1 phụ âm giả, nhưng phụ âm này câm, tức là không đọc lên. o-hu vì vậy được viết là .

Còn nhiều trường hợp tương tự: ví dụ:

, nghĩa là bên trong, đọc là an (âm a, bạn có nhớ không)
, có nghĩa là: phải, bên hữu và đọc là u
  nghĩa là hoà bình, yên ổn.

Trong tiếng Hàn, có những âm mở đầu bằng y (như d trong tiếng việt) như yo, ya. Đây là những nguyên âm, và không xài phụ âm giả (câm), vì vậy họ phải tạo ra 1 số nguyên âm mới dựa trên các nguyên âm gốc có sẵn. Họ biến a thành ya, o thành yobằng cách thêm 1 nét nhỏ vào hình vẽ âm a,o… thành (ya, giống da trong tiếng việt)
 thành  (yo, giống do trong tiếng việt)
 như vậy sẽ thành  (yu)

Chúng ta làm quen với một nguyên âm mới: , đọc như aw trong từ lawn. Trong sách giáo khoa hàn quốc, nó được viết kiểu latin hóa là eo.

Như vậy nếu vẽ thêm 1 nét như quy tắc trên,  sẽ đọc là yaw (latin hóa là yeo), đây là 1 nguyên âm riêng biệt.

tuy nhiên, trong các nguyên âm, có 2 chữ đặc biệt, vì 2 chữ này không theo quy luật “thêm nét” như trên, Nhi giới thiệu 2 nguyên âm mới này, đó là
 kí âm là eu, đọc là ơ
 kí âm và đọc là i (nó viết cũng giống chữ i Latin nhỉ?)

2 âm này không bao giờ kết hợp với y như các âm còn lại.

Đến đây, Nhi xin tổng kết bảng nguyên âm mà ta học được từ đầu tới giờ:

 a
 eo
 o
 u
 eu
 i
 ya
 yeo
 yo
 yu
Như vậy là tạm đủ với các nguyên âm, bây giờ ta sẽ học sang phụ âm.
Chúng ta sắp bước vào 1 vấn đề tế nhị: cùng 1 chữ, nhưng có thể đọc thành những âm khác nhau tùy vào vị trí của nó trong từ. Trong tiếng anh, ta đã thấy trường hợp này rồi:
Ta xem chữ t trong những từ: test, wet, water và better, khi đọc, ta sẽ nghe như sau:
test, wet (nhẹ hơn) , wader, bedder (chữ d)
Trong tiếng Hàn, chữ  có thể đọc thành 2 cách: k hay g
Như Nhi đã nói rằng một âm tiết hay từ được tạo ra bằng cách xếp các phụ và nguyên âm vào 1 ô vuông. Vị trí 1 phụ âm vì vậy có thể là: ở vị trí khởi đầu (bên trái hay phía trên của ô vuông), hay ở vị trí cuối cùng, kết thúc (nằm dưới ô vuông).
 trong trường hợp thứ 1 sẽ đọc là k
Nhưng, trong trường hợp thứ 2, phụ âm có thể sẽ nằm giữa 2 nguyên âm, nó sẽ đổi cách đọc.  giữa 2 nguyên âm sẽ đọc là g (guess, go)
Ví dụ:
có nghĩa là đứa bé (bébé, baby), vì vậy sẽ đọc là a-gi chứ không phải là a-ki
tương tự, có nghĩa là Ai (Qui, Who), sẽ đọc là nu-gu
Bạn có nhớ cái phụ âm giả (và câm) là dùng để gắn vào nguyên âm. Khi nó đứng đầu, nó sẽ câm, nhưng khi nằm sau nguyên âm, nó được đọc là ng
 (peacefulness hay well-being): đọc là an-nyeong
Từ giờ trở đi, mỗi khi học phụ âm, bạn cần chú ý tới vị trí của nó (nếu nằm giữa 2 nguyên âm, nó sẽ đổi cách đọc, còn nếu mở đầu, đứng trước nguyên âm thì không đổi)
Chúng ta sẽ học 3 phụ âm mới theo hướng này:
 mở đầu, trước nguyên âm đọc là t (tape), giữa 2 nguyên âm, sẽ đọc là d (day), bạn có thể thấy là chuyện này khá giống tiếng anh (Nhi sẽ viết là t/d cho gọn)
Tương tự:
đọc là b/p (baloon và pain)
kí âm là r, trước nguyên âm đọc là đ (giống t trong water), giữa 2 nguyên âm đọc là l (từ ill)
Phụ âm  là 1 chữ đặc biệt. Nó đọc là s (sight, sao) ở đầu 1 từ (trước nguyên âm), và đọc là t (trong wet) nếu nằm ở cuối 1 từ.
Tuy nhiên trong từ , nó đọc như sh trong she, show.
Nhi sẽ lấy vài thí dụ:
, là động từ đi (aller, to go), kí âm latin là ga-da, đọc là ka-da
 là giày, kí âm là gu-du, đọc là ku-du
, là số 5, đọc là ta-seot (âm eo đọc như aw trong lawn)

_________________________________

Bài viết đầu tiên này không nhằm giới thiệu tất cả những nguyên âm, phụ âm, Nhi chỉ muốn giúp các bạn có hứng thú đến với tiếng Hàn quốc, vì 1 số người ngại khó khăn nên chưa muốn học thử.

Chào mọi người, Nhi sẽ tiếp tục giới thiệu bảng mẫu tự hàn quốc
Trong tiếng Hàn, có những âm mở đầu bằng y (như d trong tiếng việt) như yo, ya. Đây là những nguyên âm, và không xài phụ âm giả (câm), vì vậy họ phải tạo ra 1 số nguyên âm mới dựa trên các nguyên âm gốc có sẵn. Họ biến a thành ya, o thành yo bằng cách thêm 1 nét nhỏ vào hình vẽ âm a,o…
thành (ya, giống da trong tiếng việt) thành (yo, giống do trong tiếng việt) như vậy sẽ thành (yu)
Chúng ta làm quen với một nguyên âm mới: , đọc như aw trong từ lawn. Trong sách giáo khoa hàn quốc, nó được viết kiểu latin hóa là eo.   Như vậy nếu vẽ thêm 1 nét như quy tắc trên,  sẽ đọc là yaw (latin hóa là yeo), đây là 1 nguyên âm riêng biệt.
tuy nhiên, trong các nguyên âm, có 2 chữ đặc biệt, vì 2 chữ này không theo quy luật “thêm nét” như trên, Nhi giới thiệu 2 nguyên âm mới này, đó là kí âm là eu, đọc là ơ kí âm và đọc là i (nó viết cũng giống chữ i Latin nhỉ?)   2 âm này không bao giờ kết hợp với y như các âm còn lại.
Đến đây, Nhi xin tổng kết bảng nguyên âm mà ta học được từ đầu tới giờ:

a
eo
o
u
eu
i
ya
yeo
yo
yu
Như vậy là tạm đủ với các nguyên âm, bây giờ ta sẽ học sang phụ âm.
Chúng ta sắp bước vào 1 vấn đề tế nhị: cùng 1 chữ, nhưng có thể đọc thành những âm khác nhau tùy vào vị trí của nó trong từ. Trong tiếng anh, ta đã thấy trường hợp này rồi:
Ta xem chữ t trong những từ: test, wet, water và better, khi đọc, ta sẽ nghe như sau:
test, wet (nhẹ hơn) , wader, bedder (chữ d)
Trong tiếng Hàn, chữ có thể đọc thành 2 cách: k hay g
Như Nhi đã nói rằng một âm tiết hay từ được tạo ra bằng cách xếp các phụ và nguyên âm vào 1 ô vuông. Vị trí 1 phụ âm vì vậy có thể là: ở vị trí khởi đầu (bên trái hay phía trên của ô vuông), hay ở vị trí cuối cùng, kết thúc (nằm dưới ô vuông).
trong trường hợp thứ 1 sẽ đọc là k
Nhưng, trong trường hợp thứ 2, phụ âm có thể sẽ nằm giữa 2 nguyên âm, nó sẽ đổi cách đọc. giữa 2 nguyên âm sẽ đọc là g (guess, go)
Ví dụ:
có nghĩa là đứa bé (bébé, baby), vì vậy sẽ đọc là a-gi chứ không phải là a-ki
tương tự, có nghĩa là Ai (Qui, Who), sẽ đọc là nu-gu
Bạn có nhớ cái phụ âm giả (và câm) là dùng để gắn vào nguyên âm. Khi nó đứng đầu, nó sẽ câm, nhưng khi nằm sau nguyên âm, nó được đọc là ng
(peacefulness hay well-being): đọc là an-nyeong
Từ giờ trở đi, mỗi khi học phụ âm, bạn cần chú ý tới vị trí của nó (nếu nằm giữa 2 nguyên âm, nó sẽ đổi cách đọc, còn nếu mở đầu, đứng trước nguyên âm thì không đổi)
Chúng ta sẽ học 3 phụ âm mới theo hướng này:
mở đầu, trước nguyên âm đọc là t (tape), giữa 2 nguyên âm, sẽ đọc là d (day), bạn có thể thấy là chuyện này khá giống tiếng anh (Nhi sẽ viết là t/d cho gọn)
Tương tự:
đọc là b/p (baloon và pain)
kí âm là r, trước nguyên âm đọc là đ (giống t trong water), giữa 2 nguyên âm đọc là l (từ ill)
Phụ âm là 1 chữ đặc biệt. Nó đọc là s (sight, sao) ở đầu 1 từ (trước nguyên âm), và đọc là t (trong wet) nếu nằm ở cuối 1 từ.
Tuy nhiên trong từ , nó đọc như sh trong she, show.
Nhi sẽ lấy vài thí dụ:
, là động từ đi (aller, to go), kí âm latin là ga-da, đọc là ka-da
là giày, kí âm là gu-du, đọc là ku-du
, là số 5, đọc là ta-seot (âm eo đọc như aw trong lawn)
Thôi, Nhi xin tạm dừng ở đây nhé.
Phản hồi
  1. wanome nói:

    Chà chà ! Chú kiếm được cái theme này đẹp đấy ! he he . Mà còn học cả tiếng Hàn và tiếng Nhật nữa à . Anh phải học chú rồi … viết nhiều vào nhé !

  2. baothy nói:

    viet them nua di…hayw a

  3. Julie nói:

    Cho mình hỏi là “o” là kí tự giả, ko đọc, nhưng khi nào mình mới viết kí tự này? Có quy tắc gì ko?

  4. hà phương nói:

    vậy thì bạn có thể tổng kết các nguyên âm và phụ âm thành bảng anphabet dc hok?
    mình học theo bài của bạn thấy rất dễ hiểu và hay lắm.
    mình rất hứng thú đấy!
    well done!
    tiếp tục dành thời gian chia sẻ nhé bạn.
    thanks for your good letter!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s