Học Tiếng Hàn Cơn Bản

Các nguyên tắc phát âm trong tiếng Hàn

Sơ lược về tiếng Hàn :

Tiếng Hàn quốc là ngôn ngữ tượng thanh và cả tượng hình,tuy có thể đánh vần được nhưng để phát âm được chính xác là tương đối khó vì đòi hỏi thực hiện những yêu cầu biến đổi nhất định trong quá trình phát âm …

(trích :tài liệu Trường Hàn ngữ Kanata – tg Lê Huy Khoa)

*Lưu ý :

Các bạn có thể download toàn bộ tài liệu này (xem hướng dẫn ở đây),tuy nhiên mục đích của tôi là chỉ post tóm tắt các phần chính.Hơn nữa việc post lên đây cũng tiện cho mọi người có thể cùng thảo luận ,hoặc trình bày các ý kiến ,thắc mắc của bản thân ,nhằm đạt hiệu quả tốt hơn .

Phiên âm chữ cái tiếng Hàn quốc sang phiên âm tiếng Việt

Bảng chữ cái tiếng Hàn quốc :

Phiên âm :

1.a.Nguyên âm đơn

ㅏ (a) , ㅑ (ya) ,ㅓ (ơ) ,ㅕ (yơ) , ㅜ (u) , ㅠ (yu) , ㅗ (ô) , ㅛ (yô) , ㅡ (ư) , ㅣ (i) , ㅐ (e) , ㅒ (ye) , ㅔ (ê) , ㅖ (yê)

1.b.Nguyên âm kép

ㅘ (oa) , ㅙ(oe) , ㅚ (uê-đọc dài ,nhẹ) , ㅝ (uơ) ,ㅞ (uê) ,ㅟ (uy) ,ㅢ (ưi)

2.a.Phụ âm đơn

ㄱ (k,g) ,ㄴ (n) ,ㄷ (t,đ) ,ㄹ (r,l) ,ㅁ (m) ,ㅂ (b) ,ㅅ (x) ,ㅇ (ng) ,ㅈ (ch,j) ,ㅊ (xh) ,ㅋ (kh) ,ㅌ (th) ,ㅍ (ph) ,ㅎ (h)

2.b.Phụ âm kép

ㄲ (kk) ,ㄸ (tt) ,ㅃ (bb) ,ㅆ (xx) ,ㅉ (ch)

*Lưu ý :

-Với hai phụ âm “ㅊ” và “ㅍ” được phiên âm là “xh” và “ph”, chúng ta hiểu chúng được phát âm giống “x” và “p” nhưng thêm “h” nghĩa là nhất thiết phải bật hơi mạnh khi phát âm .Phụ âm “ㅊ” thì vị trí của lưỡi giống

như phát âm chữ “x” trong tiếng Việt ,nhưng đầu lưỡi ép sát lợi trên nhiều hơn ,khi phát âm phải bật hơi mạnh .Với phụ âm “ㅍ” cách phát âm giần giống với “p” hai môi khép kín trước khi phát âm ,khi phát âm phải

bật hơi thật mạnh ,luồng không khí đi ra nhanh và dứt khoát .

-Với các âm đôi “ㄲ,ㄸ,ㅃ,ㅆ,ㅉ” cách phát âm cơ bản là “ㄱ,ㄷ,ㅂ,ㅅ,ㅈ” nhưng phát âm ngắn hơn ,nhấn mạnh hơn .

-Nguyên âm ‘ ㅢ ‘ được phát âm như sau :

a) Khi ” ㅢ ” được phát âm đầu tiên trong âm tiết,thì phát âm thành ” ㅢ ” [ưi]:

의자 ,의사 ,의무 ,의리 ,의미

b) Những âm tiết mà âm đầu tiên là phụ âm thì ” ㅢ ” đọc thành ” l ” [i] :

무늬 ,유희 ,희다 ,띄어쓰기 ,희미하다

c) Khi ” ㅢ ” không phải là âm tiết đầu tiên của từ thì đọc thành ” ㅣ ” [i] :

회의 ,거의 ,주의 ,의의 ,토의하다

d) Khi ” ㅢ ” làm trợ từ sở hữu cách thì đọc thành ” ㅢ ” [ưi] hoặc ” ㅔ ” [ê] :

우리의 시조 ,그녀의 머리 ,나라의 소유 ,민주주의의 의의

Âm cuối cùng của âm tiết

음절의 긑소리

1.Patchim

Những phụ âm có thể làm âm cuối của một âm tiết gồm 7 phụ âm : [ㄱ,ㄴ,ㄷ,ㄹ,ㅁ,ㅂ,ㅇ]

Trong trường hợp kết hợp với các từ nối, cuối câu, trợ từ bắt đầu bằng một nguyên âm thì thường các phụ âm làm patchim chuyển lên làm âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

a)Patchim ㄱ, ㄲ, ㅋ đọc thành ㄱ [c, k]

국 [kuk]——–꺾다 [cớc tà]———–부엌 [bu ớc]

Trong trường hợp kết hợp với các nguyên âm thì các patchim ㄱ, ㄲ, ㅋ được chuyển sang phát âm thành âm đầu tiên của âm tiết sau .

가족이——->가조기 [ca chô ci]

밖에———>바께 [ba cê]

깎아서——->까까서 [ca ca sơ]

b) Patchim đọc thành ㄴ [n]

손 [sôn]—–산 [san]—–돈 [tôn]

Trong trường hợp với các nguyên âm thì patchim ㄴ chuyển sang phát âm thành âm đầu tiên của âm tiết sau

손이 —–>소니 [xô ni]

산에 —–>사네 [xa nê]

문으로—->무느로 [mu nư rô]

c) Pat chim ㄷ, ㅅ, ㅆ, ㅈ, ㅊ, ㅌ, ㅎ đọc thành ㄷ [t]

믿다 [mít tà] —-얻다 [ớt tà]

벗다 [bớt tà] —-왔다 [oát tà]

잊다 [ít tà] ——꽃 [cốt]

뱉다 [bét tà] —-낳다 [nát tà]

*Trong trường hợp ” ” kết hợp cùng với “ㅂ, ㄷ, ㅈ, ㄱ” thì sẽ xuất hiện hiện tượng âm hơi hóa và ” ” chuyển thành ” ㅍ ” , ” ㄷ “ phát âm thành “ ㅌ “ ,và phát âm thành ” ” và ” ” thành ”

잡히다 [cha phi tà]

막히다 [ma khi tà]

Những patchim là “ㄷ, ㅅ, ㅆ, ㅈ, ㅊ, ㅌ, ㅎ” kết hợp với nguyên âm thì chuyển sang phát âm thành âm đầu tiên của âm tiết sau

옷이—–>오시 [ô xi]

낮에—–>나제 [na chê]

좋은—–>조은 [chô ưn]

*Âm ” ” thì không phát âm hoặc phát âm nhẹ

d)Patchim phát âm thành [l] ,cần uốn lưỡi khi phát âm ” l ” ở cuối câu

달 [tal] —— 물 [mul] —– 팔 [phal]

Khi kết hợp với nguyên âm thì pat chim được phát âm thành “r” và được chuyển sang thành âm thứ nhất của âm tiết thứ hai

달을 —–> 다를 [ta rưl]

물에 —–> 무레 [mu rê]

e) Patchim đọc là ㅁ [m]

마음 [ma ưm] —– 봄 [bôm] —– 바람 [ba ram]

Khi kết hợp với nguyên âm thì patchim ” ㅁ ” chuyển sang phát âm thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

봄에 —–> 보메 [bô mê]

마음에 —–> 마으메 [ma ư mê]

바람이 —–> 바라미 [ba ra mi]

f) Các patchim ㅂ, ㅍ đọc thành ㅂ [p]

집 [chíp] —– 밥 [báp]

숲 [súp] —–덮개 [tớp ce]

Khi kết hợp với nguyên âm thì patchim ㅂ, ㅍ chuyển sang phát âm thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

집에 —–>지베 [chi pê]

밥을 —–>바블 [ba bưl]

g) Patchim đọc thành ㅇ [ng]

강 [kang] —– 시장 [xi chang] —– 공항 [công hang]

Trong trường hợp kết hợp với nguyên âm thì patchim ” ㅇ ” không chuyển sang phát âm thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

강에 —->강에 [kang ê]

2.Patchim kép

Patchim kép chỉ được phát âm thành một trong trường hợp đứng cuối câu hoặc trước phụ âm, có một số trường hợp phát âm phụ âm đầu tiên , phát âm phụ âm cuối ,và có trường hợp phát âm cả hai âm .Và các patchim kép này khi kết hợp cùng với các từ nối ,trợ từ ,cuối câu bắt đầu bằng phụ âm thì chỉ phụ âm cuối cùng chuyển sang phát âm thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo .

a)Những patchim sau thì chỉ phát âm phụ âm đầu tiên “ㄳ, ㄵ, ㄶ, ㄽ, ㄾ, ㅄ”

phát âm thành ㄱ [k] ,đi sau là nguyên âm thì phụ âm thứ hai chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

몫 [목 mốc] —– 몫으로 [목스로 mốc xư rô]

삯 [삭 xác] —– 삯이 [삭시 xác xi]

phát âm thành ㄴ [n] ,đi sau là nguyên âm thì phụ âm thứ hai chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

앉다 [안따 an tà] —–앉아서 [안자서 an cha sơ

phát âm thành ㄴ [n] ,đi sau là nguyên âm thì ㄴ [n] chuyển sang thành âm đầu tiên của âm tiếp theo

많으면 [마느면 ma nư myơn]

phát âm thành ㄹ [l],đi sau là nguyên âm thì phụ âm thứ hai chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

외곬 [외골 uê kôl] —– 외곬으로 [외골쓰로 uê kôl xư rô

phát âm thành ㄹ [ㅣ],đi sau là nguyên âm thì phụ âm thứ hai chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

핥다 [할따 hal tà] —– 핥아 [할타 hal thà]

phát âm thành ㄹ [l] ,đi sau là nguyên âm thì ㄹ [l] chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

다 [일타 il thà] —– 잃어서 [이러서 i rơ xơ]

phát âm thành ㅂ [p] ,đi sau là nguyên âm thì phụ âm thứ hai chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

없다 [ợp tà] —– 없으니까 [업쓰니까 ợp xư ni ca]

b) Những patchim ㄻ ,ㄿ thì phát âm bằng phụ âm cuối

phát âm thành ㅁ [m],đi sau là nguyên âm thì phụ âm thứ hai chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

삶다 [삼따 xam tà] —– 삶아 [살마 xal ma]

phát âm thành ㅍ [p] ,đi sau là nguyên âm thì phát âm âm thứ nhất và phụ âm thứ hai chuyển lên thành âm đầu tiên của âm tiết tiếp theo

읊다 [읍따 ứp tà] —– 읊어 [을퍼 ưl phơ]

c) Các patchim ㄼ, ㄺ thì phát âm cả hai phụ âm đầu và cả cuối

-Patchim là ㄼ [l] thì chỉ phát âm phụ âm đầu ㄹ [l] ,nếu đi sau là nguyên âm thì phụ âm thứ hai chuyển sang thành âm thứ nhất của âm tiết thứ hai

얇다 [얄따 yal tà] —– 얇아서 [얄바서 yal ba xơ]

-Patchim là ㄼ [p] thì chỉ phát âm phụ âm sau ,nếu đi sau là nguyên âm thì lại phát âm phụ âm đầu và phụ âm thứ hai chuyển thành âm thứ nhất của âm tiết thứ hai

밟지 [밥찌 báp chi] —– 밟아서 [발바서 bal ba xơ]

-Patchim là thì phát âm phụ âm đầu ㄹ [l] ,nếu đi sau là nguyên âm thì lại phát âm phụ âm đầu và phụ âm thứ hai chuyển thành âm thứ nhất của âm tiết thứ hai

맑고 [말꼬 mal kô] —– 맑으면 [말그면 mal cư myơn]

-Patchim thì phát âm phụ âm cuối ㄱ [k] ,nếu đi sau là nguyên âm thì lại phát âm phụ âm đầu và phụ âm thứ hai chuyển thành âm thứ nhất của âm tiết thứ hai

닭 [닥 tác] —– 닭이 [달기 tal ki]

Mình còn nhiều cái chưa hiểu lắm về phát âm tiếng Hàn. Cái bài trên chưa có phần biến âm. Đây là phần mình phân vân nhất.

여 자 thì hình như người Hàn phát âm thành yo za. Nếu đọc yo cha thì sẽ rất khó đọc, và dễ thành 여 짜.

t thành đ cũng là vậy! Nếu không đọc thành đ thì dễ thành tt. Mình chỉ tự học, ít nghe người Hàn nói. Mà trước đây, thì mình chưa rành lắm về cách phát âm tiếng Việt.

Kinh nghiệm của mình là khi học tiếng Hàn, tiếng Nhật là cần nghe người ta nói. Chứ chủ quan thấy phiên âm, ghép âm giống tiếng Việt thì sau này nghe trực tiếp mới vỡ lẽ. Đó là do cùng là người Việt Nam nhưng cách phát âm, nói chuyện hàng ngày không giống nhau. Thường là khi phiên âm thì sẽ phiên theo chuẩn.

Ngoài ra, còn chữ e và ê. Hàn cũng phân biệt ê và e nhưng có 1 số sách, và thực tế nghe thì chả biết ê và e của hàn khác nhau chỗ nào. Ở phần đọc bảng chữ chữ cái thì rất rõ, tuy nhiên ở 1 bài cụ thể, đọc từ vựng thì gần như là hết biết.

Ví dụ: chữ ㅌ, ㅠ, ㅋ thì giống như cách phát âm HN. Đó là sự bật hơi. Ở miền Nam, th và kh được phát âm không bật hơi. Chữ ch cũng vậy! Thỉnh thoảng, người Hàn phát âm chữ t như là th của miền Nam, k như là kh của miền Nam. Thỉnh thoảng thì như là t, k của miền Nam. Trước đây, thật sự bối rối! Còn bây giờ thì đang học tiếng Nhật, nghỉ học tiếng Hàn rồi .

Bạn thân mến !
Các bài trên mình post lên là dùng theo tài liệu của Lê Huy Khoa ,bởi vì mục đích phục vụ chung (dĩ nhiên là còn thiếu quá nhiều – nhưng không có ai ý kiến ,nên mình không post tiếp đấy)
Còn theo kinh nghiệm cá nhân mình ,chỉ cần phát âm theo đúng các từ tiếng Việt tương đương (ở trên đã nói rõ) là ổn rồi ,người Hàn hiểu hết .
Và nữa, tiếng Hàn dễ hiểu nhất là khi nói chuyện theo ngữ cảnh ,hoàn cảnh .Nếu đúng hoàn cảnh ,thì dù phát âm hơi sai tí ,người Hàn vẫn hiểu

Bổ sung thêm ý kiến của bác popo: chúng ta là người nước ngoài nói tiếng Hàn Quốc nên dù sao cũng có những khiếm khuyết trong cách phát âm, cách dùng từ cũng như cách đặt câu là điều không thể tránh khỏi.

mình hồi xưa khoái tiếng Hàn lắm! Cái này mình vô luôn forum của trường Huflit luôn đó! nhưng mà người ta chả bàn😦

Mình nói ra cái này! Là kinh nghiệm của mình! Lần đó, mình có mua phần mềm rosetta về học tiếng Hàn. Cái này có phần đánh giá phát âm! Có thằng chả học tiếng Hàn nhưng mỗi lần nó nói thì máy đều nói là giống như giọng Hàn luôn! native luôn! Mình nghiên cứu tá lả mà có lần 0, có lần được.

Qua lần đó, thì mình mới biết là mình rất chủ quan. Thằng đó chả biết gì hết! Nghe máy nói sao thì nói y chang lại, mà phần mềm cũng chỉ có thể chấm điểm trên khía cạnh như vậy!

Còn mình thì cứ học quy tắc phát âm, vị trí răng lưỡi tá lả mà cuối cùng kết quả thảm như vậy!

Đó là các chữ 고 야 이,… nói chung là các chữ ya, yê, ye,… Chữ “mèo” thực tế là “kôi ang i”, chứ 0 phải “kô yang i”.

Về phát âm thì mình nghĩ như vầy! Mình cũng chỉ đoán thôi! Từ bụng mình suy ra bụng người thôi! Nếu mình phát âm đơn giản, ít chú ý đến phát âm thật sự thì người ta vẫn hiểu nhưng người ta biết đó là người nước ngoài nói tiếng Hàn. Rồi còn độ “dễ thương” nữa! Mình nói chuyện mà người ta nghe mượt mà , 0 khó chịu. Cái này là do hồi xưa mục đích của mình là “cua gái Hàn” mà

Thực sự khi bàn cái này mình cũng rất phân vân. Nói ra thì sợ mấy bạn coi Không coi thì thôi! Chứ coi rồi thì có thể phân vân luôn! Chả biết nên phát âm ra sao. Rồi học cơ bản chả ra sao, học nâng cao cũng chả ra sao

Nói để người ta hiểu là 1 thành công. Nói như người Hàn luôn mới ghê! Cô tui nói là cho dù em nói cỡ nào thì người ta cũng nhận ra em là người nước ngoài thôi! Hàn , Nhật cũng như Việt. Mỗi vùng có 1 kiểu phát âm. Mình không mong phát âm như Thủ Đô, nhưng cũng 0 là người nước ngoài, là 1 tỉnh nào đó của Hàn, của Nhật là Ok Quan “chọng” là ở chỗ đó đó!

Về tiếng Nhật cũng như tiếng Hàn. Nếu phiên âm thành ” sưm ni ta” thì đa số người miền Nam dù phân biệt được “s” và “x” vẫn phát âm thành “sum ni ta”. Thực tế thì là “xưm ni ta”.

Đó là do kiểu romaji của Hàn, Nhật theo kiểu của Anh. “s” thì tương đương với “x” VN, còn “sh” mới là “s” VN.
Ngoài ra còn “za” và “zia”. Người Việt mình không phân biệt 2 âm này nên khó. Sáng này nghe lại băng Nhật mới phát hiện ra điều này.

?? Cho em hỏi, em thấy chữ phát âm là “ơ” , nhưng sao em nghe thì lại là “o” vậy ạ ?

“O” hay “Ơ” đều được anh ạ.
Chuẩn thì là “O” (giọng Seoul). Ví dụ: 에서: “ề so”.
Còn một số địa phương (như Busan…)lại phát âm là “Ơ”. Hình như phần lớn trung tâm tiếng Hàn, giáo viên toàn dạy là “Ơ” đúng không ah?

– Em kể một câu chuyện vui thế này: Em có cô bạn học trường đại học Hà Nội khoa tiếng Hàn. Vì là khoa mới mở nên hồi đầu các giáo viên trường tranh luận nên dạy học trò phát âm: là “O” hay “Ơ”. Sau đi đến thống nhất dạy là “O”.
Giờ sang Hàn học, con bạn em phân biệt được giọng chuẩn và giọng địa phương, nó bảo thấy biết ơn các cô rất nhìu.

Bạn thấy phát âm là “o” trong trường hợp nào ??

Theo ý mình, các bạn nên học theo giáo trình cơ bản tiếng Hàn, phát âm theo các nguyên tắc của tiếng Hàn theo hướng dẫn (ví dụ tài liệu của LHK).

*Người Hàn phát âm sai cũng nhiều, nhưng cái sai của họ chỉ là lỗi theo thói quen (không phải sai cơ bản) nên người Hàn khác vẫn hiểu. Đơn giản họ là người Hàn với nhau . Các bạn còn chưa học cơ bản mà muốn học theo cách nói của người Hàn là sai lầm, mình nghĩ thế

Tất cả các dân tộc Hàn Quốc đều nói chung một ngôn ngữ, đây được coi là một yếu tổ quyết định trong việc tạo nên môt bản sắc dân tộc mạnh mẽ của người Hàn Quốc. Người Hàn Quốc đã từng lập ra một số ngôn ngữ khác với ngôn ngữ chuẩn đang được dùng tại Seoul hiện nay. Tuy nhiên, những ngôn ngữ địa phương này, trừ ngôn ngữ được dùng ở đảo Jeju-do, đều khá giống với ngôn ngữ chuẩn vì thể người nói tiếng bản địa có thể hiểu được không mấy khó khăn.

Các nhà ngôn ngữ học và các nhà dân tộc học đã xếp tiếng Hàn Quốc thuộc loại ngôn ngữ An-tai, trong đó bao gồm cả Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Mông Cổ và tiếng Tunus – Mãn Châu.
 
Hangeul, bảng chữ cái tiếng Hàn Quốc đã được sáng minh bởi vua Sejong vào thế kỷ thứ 5. Trước khi bảng chữ cái được phát minh, chỉ một phần rất nhỏ dân số có thể hiểu được chữ Hàn vì nó quá khó.
 
Trong những nỗ lực nhằm phát minh ra một hệ thống chữ viết của Hàn Quốc, vua Sejong đã nghiên cứu nhiều hệ thống chữ viết khác, được biết vào thời bấy giờ, trong đó có chữ Hán cổ, chữ Uighur và những hệ thống chữ viết của người Mông Cổ.
 
Tuy nhiên, hệ thống mà họ đã quyết định lựa chọn chủ yếu được dựa trên ngữ âm học. Trên tất cả, hệ thống này được phát minh và sử dụng theo một nguyên lý sự phân chia ba phần âm tiết, bao gồm chữ cái đầu, chữ cái giữa và chữ cái đứng cuối, khác với sự phân chia làm hai của âm tiết trong ngữ âm học của chữ Hán cổ.
Dưới đây, chúng tôi xin được giới thiệu qua với các bạn về bảng chữ cái tiếng Hàn.
 

Hangeul bao gồm 10 nguyên âm và 14 phụ âm, có thể kết hợp thành vô vàn những nhóm âm tiết khác nhau. Nó vô cùng đơn giản, có hệ thống và dễ hiểu, đây được coi là một trong những hệ thống chữ viết khoa học nhất trên thế giới. Hangeul rất dễ học và dễ viết và đã có đóng góp hết sức to lớn đối với tỉ lệ biết chữ cao của Hàn Quốc và sự phát triển của ngành công nghiệp in ấn của Hàn Quốc.
 
Trước khi bước vào học bạn phải Download font tiếng Hàn về máy!
(Hướng dẫn:
    – Download file batang.rar về máy
    – Rồi giải nén ra   – -> Sau đó chép file batang.ttc vào thư mục C:\Windows\Fonts)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s