Sau một chuyến đi Quảng Châu mình xin chia xẻ kinh nghiệm của mình để các bạn có muốn bắt đầu cuộc hành trình đi qua đó biết chuẩn bị những gì cần thiết.
– Trước khi đi bạn nên chuẩn bị cho mình một chiếc passport và visa (thị thực) để ĐẠI SỨ QUÁN TRUNG QUỐC cho phép bạn nhập cảnh vào đất nước của họ.

Ở đây bạn sẽ thắc mắc là nhờ trung gian môi giới xin visa hay tự mình xin. Thì heotietkiem khuyên bạn là nên tự đi làm. Vì xin visa rất dễ, chỉ cần bạn cầm passport mang theo tấm hình 4-6 rồi tới đó dán lên giấy, điền thông tin vào rồi gửi người ta đóng dấu (4 ngày sau có rồi) Chỉ có chút xíu vậy thôi mà ở dịch vụ tính mỗi con dấu vậy là 6-8USD đấy. Các bạn tiết kiệm được một khoản nhờ vụ tự đi đóng dấu.
– Trước khi đi bạn cần liên hệ thử một số điểm khách sạn tại QC – giá vé đi từ cửa khẩu tới QC cũng như thủ tục đổi tiền. Theo heotietkiem thì bạn nên đổi tiền tại HN vì giá cả ở đây tốt và không sợ tiền giả.
– Sau đó bạn sẽ lựa chọn là đi con đường qua chợ Quảng Châu Trung Quốc bằng máy bay hay bằng đường bộ (nghĩa là đi tới cửa khẩu Hà Nội – Trung Quốc)
Giá vé bay từ VN bay thẳng tới TQ trung bình là 300USD một lượt chưa kể khứ hồi. Còn riêng đi bằng đường cửa khẩu thì bạn chỉ tốn một phần chi phí tới Hà Nội rồi đi thẳng đến biên giới thôi.
– TP.HCM đến Hà Nội đi xe tốc hành giá 500-600K giường nằm hoặc xe lửa (thời gian đi ba ngày) còn nếu đi bằng máy bay thì khoản 1 triệu 4 là mắc nhất (2009)
Trước khi tới Hà Nội bạn nên liên lạc địa điểm xe chạy tới biên giới trước. Điều này giúp bạn đỡ tốn tiền chi phí đi lại, ăn uống tại Hà Nội. (thường là xe xuất phát từ Hà Nội lên cửa khẩu là lúc 12h và 6h chiều) Trên mạng rất nhiều hãng xe, các bạn có thể lựa chọn xe mình tùy thích, giá cũng chỉ có 100 – 120K một chuyến như vậy. Không dao động nhiều hơn. Xe giá mắc thường đi xe tốt máy lạnh an toàn.
(lưu ý là đường tới cửa khẩu xe thường dừng lại các chỗ hàng quán bán đồ ăn thức uống, các bạn hãy hỏi giá trước khi ăn nhé. Mà giá cả cũng phải chăng, hợp khẩu vị)
– Tới biên giới thì bạn lấy passport đã được thị thực visa để làm thủ tục xuất cảnh (Việt Nam) và nhập cảnh (TQ), chỉ xếp hàng đưa passport cho người ta đọc tên đánh dấu. Rất nhanh chóng không rườm ra. Hành trình tiếp theo là đi bộ qua cửa khẩu.
Vừa qua cửa khẩu thì bạn sẽ được rất nhiều người chào đón taxi đưa về bến xe Bằng Tường. Nhớ trả giá xuống 30 Tệ là ok. Trước bến xe Bằng Tường có những cửa hàng cơm giá cũng bình dân và ăn khá giống món VN. Giá thường 6-8tệ.
Bến xe Bằng Tường chuyên phục vụ cho khách VN đi đánh hàng tại TQ. Giá vé thường là 400 Tệ cho khứ hồi. Bạn nên đặt vé đi trước để phòng thân (mà xe cũng thường dư chỗ cho bạn nếu đi riêng lẻ) Giờ xuất hành thường là có nhiều chuyến trong ngày. Tùy theo bạn tới giờ nào rồi lựa chọn thời điểm xuất phát phù hợp. Thời gian để nằm trên xe từ Bằng Tường tới Quảng Châu là 10h đồng hồ. Trên xe có toa lét và giường thoải mái cho bạn nằm luôn. (tốt nhất đi toalet và tránh uống nước để lên xe khỏi chộn rộn đi tới đi lui)
Đi toa giường nằm mất 10h – 12h để từ Bằng Tường về Quảng Châu. Khi đến nơi là một bến xe rộng trống trải với những tòa nhà chung cư cũ kỹ bao bọc. Đi ra ngoài cửa bạn có thể quẹo sang phải để ăn chút đồ ăn sau chặng đường dài. (chủ quán nói được vài câu tiếng Việt bập bẹ) Giá mỗi món ăn được niêm yết trên bảng. Nếu không rõ tiếng Hoa thì bạn cứ chỉ món rồi người ta ghi giấy cho bạn. Trả tiền xong sẽ có được phát phiếu số đặt lên bàn, phục vụ món ăn xong họ sẽ lấy lại số. Giá trung bình từ 6 Tệ (cháo thịt) – 12 Tệ (Mì Hoành Thánh)
Khách sạn thì bạn có 2 lựa chọn là khách sạn Đức Chính (bên phải bến xe) và khách sạn Nghi Giai (bên trái bến xe) Theo mình biết thì giá Nghi Giai mắc trung bình là 20 tệ vì phòng có hỗ trợ Internet, đi lại thuận tiện và lúc nào cũng có người biết tiếng Việt hỗ trợ. Khách sạn Đức Chính giá rẻ hơn 140Tệ/ Đêm và nằm trong tầng 5 một tòa cao ốc nên hơi khó kiếm. (bạn có thể search trên mạng để biết thêm thông tin 2 nơi này)
Mỗi khách sạn đều có dịch vụ chuyển hàng về VN, đổi tiền và cho thuê phiên dịch với giá 200Tệ / ngày /24 giờ. Tùy theo bạn thích mua hàng gì và cần đến những nơi đâu thì yêu cầu phiên dịch. Riêng buôn bán một số mặt hàng như quần áo, giày dép, túi xách thì bạn không cần phiên dịch làm gì.
– Thực tế khi không có phiên dịch, bạn có thể đi theo hướng nào tùy thích mà không sợ ảnh hưởng đến ai. Muốn trả giá hay yêu cầu gì cũng không sợ mất thể diện. Đa số phiên dịch khi trả giá đều không tỉ mỉ cân nhắc đồng tiền lời lỗ như người buôn hàng. Lúc nào bạn cũng cầm bên mình một cái máy tính xách tay để có thể trả giá nhanh nhất. Để tiết kiệm chi phí 200Tệ một ngày bạn chỉ cần ghi ra giấy những nơi mình cần đến bằng tiếng Hoa để đưa cho taxi, và card khách sạn để trở về là được. Một số câu nói thông dụng như “buôn sỉ” ,”giá rẻ”, “mắc quá”, “lấy đủ size”, “có bao nhiêu màu” … thì bạn nên ghi ra quyển sổ từ tiếng phiên âm lẫn chữ để show cho người bán.
– Phiên dịch cần cho bạn mua một số mặt hàng yêu cầu tiểu tiết như các mặt hàng lưu niệm, gia công, mỹ nghệ … Khi cần đi mua sắm ở các trung tâm lớn, hàng hiệu và ăn uống thì bạn cần thổ địa dẫn đi. Chứ nếu không sẽ gặm cơm bình dân ngay trước cửa khách sạn dài dài. Mặc dù bạn vậy bạn có thể nhờ những người ở khách sạn ghi ra địa điểm mà buốn đi ra tờ giấy rồi lên taxi…
– Ở Quảng Châu có các khu chợ riêng cho từng mặt hàng, bạn nên dành 1 ngày đầu để tham quan và lựa chọn. Sau đó tới từng điểm lấy hàng mình cần, đôi khi có những nơi có hàng đẹp nhưng giá lại rẻ, một số điểm bán hàng lại mắc và chất lượng không như ý.
– Sau khi lấy hàng về bạn có thể bỏ ra 2h đồng hồ để nhờ người ta chuyển hàng về cho bạn tận nhà tại VN. Tốt nhất nhờ người ta gói hàng lại giùm luôn (giá gói và vận chuyển khoản 2.400.000 VNĐ) Vì hàng được chuyển theo hành lang biên giới đường bộ nên rất dễ va đập. Hàng thủ công mỹ nghệ, giày cao gót đều phải gói riêng từng món để tránh trầy xướt. Về VN khoản 4-5 ngày là có hàng. Rất ít khi nào mất hàng hay trễ hẹn.

MỘT SỐ LƯU Ý KHI ĐI
– Hàng Quảng Châu bán theo mùa, khí hậu nóng lạnh quyết định đến gu thẩm mỹ và hàng hóa bán ra ở từng cửa hiệu. Nên thường bạn đi mùa hè là hàng sẽ hợp với khí hậu VN hơn cả.
– Không cần thủ sẵn tiền lẻ khi mua bán, vì TQ họ cũng có sẵn tiền lẻ để thối cho bạn khi cần thiết. Và nhất là khi bạn đi buôn thì mang theo nhiều tiền chẵn đỡ nặng tay chân.
– Nói là chợ thật chất là các trung tâm lớn với lực lượng an ninh rất hoành tráng, bạn cũng đừng lo chuyện cướp của giựt dọc ở đây. Chỉ cần cẩn thận mang túi xách cẩn thận để không lạc thôi.
– Đi buôn ở chợ 13 tại Quảng Châu là hàng quần áo thời trang rẻ nhất so với tất cả các nơi bán khác tại TQ. Bạn nên đi lùng nhiều để có hàng độc giá tốt. Tuy nhiên chợ này đúng 12h trưa là đóng cửa… nhưng bạn có thể tới các gian hàng đối diện trung tâm chợ để mua với giá cũng rất phải chăng.
– Nên mua hay mượn tại khách sạn chiếc xe đẩy hàng nhỏ để vận chuyển. Vì đa số mỗi lần đi mua đều vác về các bao tải đồ nên sức người không phải là trâu bò có thể kéo hết được. Càng phải đi 2 người để có một người ngồi trông hàng để người kia lựa hàng về cho nhanh, đỡ tốn chi phí đi lại.
– Một số cửa hàng bán sỉ sẽ yêu cầu khách gửi lại họ tên để ghi hóa đơn, bạn cần biết tên chữ tiếng hoa của mình để dễ ký sổ. Nhớ là dù bận rộn cách mấy, hàng hóa gói chặt thế nào cũng lấy ra kiểm lại từng món hàng. Quần áo thường bị trộn khác size, gán mác này mà size quần kia, hàng cũ đứt nút, quần bị rách lỗ, hàng cũ tân trang lại rất thường xuyên… đôi khi còn ghi nhầm hóa đơn cho bạn nữa. Tuyệt đối trả tiền sau khi đã nhận hàng đầy đủ. Bởi bạn không thể ghé lại đổi hoặc trả hàng cho họ.
– Món ăn ở TQ nói chung đều dễ ăn, chỉ có giá tiền là khác nhiều thôi. Hạn chế đi ở các tiệm ăn lớn giá rất đắt đỏ.
– Các cửa hàng lớn thường bán sỉ nhưng giá cũng trên trời, các thương nhân nhỏ bán riêng đặc trưng loại mặt hàng thì giá cả sẽ thấp hơn nhiều. Nếu bạn đã nói mua sỉ thì rất khó mặc cả giá. Ngoài ra khi đã mua sỉ thì ít nhất phải mua mỗi sản phẩm trên 3 cái. Bạn có thể xin người ta bán mỗi kiểu lấy một cái được hay không cũng tùy cửa hàng.
– Đã khi đi buôn hàng nên chuẩn bị số tiền là 100 triệu để lấy hàng mới xứng đáng chi phí bỏ ra. Nếu được thì tập trung yêu cầu hàng hóa từ những nơi buôn hàng để tăng thêm lợi nhuận bán hàng.
– Đừng mua sim card tại cửa khẩu vì giá mắc lại thời gian gọi ít. Đa số là sim khuyến mãi (như Viettel). Cứ mua một cái sim tại gần khách sạn và nạp tiền là sử dụng tốt nhất. Hoặc chat voice cho đỡ tốn chi phí. Giá rẻ vi tính rẻ như bèo.
– Vé đi xe từ Bằng Tường có thể thương lượng để dời ngày đi ngày về nhưng phải gọi trước để người ta tiện sắp xếp cho bạn.
– Nếu bạn muốn gắn bó lâu dài hơn cho các chuyến buôn hàng thì nên mua bản đồ và đi xe bus, giá rẻ hơn taxi đến 10 lần. Xe bus ở đây chạy thường xuyên và đúng tuyến. Chỉ cần dựa vào sự lanh lẹ và chỉ chỏ của bạn nữa.
Trên đây là một số chia sẻ của mình giúp các bạn muốn đi buôn hàng tại TQ. Hi vọng có ai có thêm kinh nghiệm thì nói lên để giúp đỡ newbie nhé.

I. MỞ ĐẦU


1. Giới thiệu sơ lược về văn học Trung Hoa

Với dân số 1,3 tỷ người, Trung Hoa được biết đến là một đất nước rộng lớn có dân số đông nhất thế giới. Đất nước này còn nổi tiếng với nền văn hóa lâu đời đậm đà bản sắc dân tộc trên 5 nghìn năm được ghi lại bằng văn tự và là nền văn minh duy nhất trong bốn nền văn minh cổ của nhân loại vẫn còn được duy trì và phát triển liên tục đến tận ngày nay. Nền văn hóa Trung Hoa là sự kết hợp giữa nền văn hóa lưu vực sông Hoàng Hà (văn hóa gốc du mục Tây Bắc và văn hóa gốc nông nghiệp ruộng khô Trung Nguyên) và nền văn hóa nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á (vùng Bách Việt).

Văn hóa Trung Hoa có đến 5.000 năm lịch sử_một nền văn hóa mà khắp thế giới đều phải xác nhận đó là con đường văn minh dài lâu chưa hề bị gián đoạn dù đất nước này đã trãi qua lắm phen sóng gió, bão bùng, chiến tranh, chết chóc xảy ra liên tục từ ngàn xưa và ngay cả thời cận đại mà vẫn tô bồi nền văn hóa ngày càng thêm rực rỡ hơn.

Văn học Trung Quốc có bề dày lịch sử hàng ngàn năm, từ các tài liệu lưu trữ của các triều đại cho đến các tiểu thuyết hư cấu từ thời trung cổ để phục vụ cho các độc giả người Trung Quốc biết chữ. Mặc dù việc đưa vào sử dụng rộng rãi kỹ thuật in mộc bản trong thời nhà Đường (618907) và sự phát minh ra kỹ thuật in ấn loại di động (in ru lô, tiếng Anh: movable type) bởi Tất Thăng (9901051) trong thời nhà Tống (9601279) không làm tiêu tan tầm quan trọng hay sự nhấn mạnh vào việc viết thư pháp Trung Hoa, cả hai loại kỹ thuật in ấn này đã nhanh chóng truyền bá kiến thức bằng văn bản khắp Trung Hoa hơn bao giờ hết.

+ Kinh Thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lí. Kinh Thi gồm có 3 phần: Phong, Nhã, Tụng.

+Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả có ba nhà thơ lớn nổi bật là Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị.


+Tới thời MinhThanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du kí của Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần…trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất.

+Trong thời kỳ hiện đại, tác gia Lỗ Tấn (18811936) có thể được xem là người sáng lập văn học bạch thoại  hiện đại ở Trung Quốc. Văn học cổ đại Trung Quốc có ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn học các nước Hán hóa như: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam. Cho đến khi văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam, đặc biệt là thời Pháp thuộc thì văn học Việt Nam mới dần chuyển qua chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây cho đến nay

2. Giới thiệu sơ lược về văn học Việt Nam


Việt Nam ta là đất nước tuy không lớn về diện tích nhưng có tới 54 dân tộc anh em chung sống, mỗi dân tộc lại có những nét văn hoá riêng đặc sắc. Tất cả hoà trộn trong nhau để tạo nên nền văn hoá Việt Nam đa dạng giàu bản sắc.

Văn hóa Việt Nam, hay nói riêng là văn hóa của dân tộc Kinh mà đã có nguồn gốc tại miền bắc Việt Nam, là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất ở trong khu vực Thái Bình Dương. Mặc dù như vậy, nhưng qua ảnh hưởng lớn của Trung Hoa, văn hóa Việt Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm gần giống với những dân tộc của miền Đông Á, và khác những nước ở khu Thái Bình Dương (như là Campuchia, LàoThái Lan) mà đã chịu một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ.

Nhưng tuy là ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của một nước ngoài trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, dân tộc Kinh đã vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình, mà cho tới ngày hôm nay những phong tục riêng đó vẫn quan trọng vô cùng trong đời sống của người Việt.

Có nhiều nhà viết sử cho rằng là trước khi ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Đông Sơn có gốc ở miền bắc Việt Nam (mà cũng đã phát triển mạnh ở những nước khác ở khu Thái Bình Dương) là phần đầu của lịch sử Việt Nam.

Có thể nói chung văn hóa của Việt Nam là một pha trộn đặc biệt giữa nhiều những văn hóa cổ xưa cùng với văn hóa bản xứ của người Việt, ngoài ảnh hưởng lớn nhất của Trung Hoa cũng có ảnh hưởng rất nhỏ hơn của văn hóa Ấn Độ, Chàm, và sau này ảnh hưởng lớn của văn hóa phương tây (Pháp, Nga, Mỹ).

Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học truyền khẩuvăn học viết của nhiều dân tộc, trong đó văn học của người Việt (Kinh) đóng vai trò rất quan trọng. Trong suốt thời phong kiến, phần lớn các tác phẩm thành văn của văn học Việt Nam được viết bằng chữ Hán do nhiều nguyên nhân: ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, thiếu chữ viết bản địa, chữ Nôm ra đời lại không được triều đình khuyến khích… Về sau, văn học Việt Nam được thống nhất viết bằng chữ quốc ngữ.

Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc. Khi chưa có chữ viết, nền văn học dân tộc chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học nầy bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết.

Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật. Văn học viết cũng có tác động trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện. Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học viết cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm.

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.

Khác với văn học dân gian, văn học viết hình thành đã “mở ra một thời kỳ lịch sử mới, oanh liệt, rực rỡ” (Đặng Thai Mai). Sự va chạm gần 10 thế kỷ giữa nền Hán học và văn hóa dân gian Việt tuy có phần làm văn hóa, tín ngưỡng, phong tục cũng như nghệ thuật của dân tộc Việt bị “sứt mẻ, mất mát” nhưng cũng tác động không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của văn học viết.

Nhiều phát hiện mới của khảo cổ học chứng minh từ thời đại Hùng Vương, người Việt đã có một nền văn hóa với nhiều nét cá tính khá rõ rệt và thể hiện qua nhiều thần thoạitruyền thuyết. Tiếp theo một thời gian dài tiếp xúc với nền văn hóa Trung Quốc tiên tiến hơn nhiều mặt, người Việt đã biết cách chuyển hóa chữ Hán trên nền tảng văn hóa Việt, đọc theo thanh điệu của tiếng Việt mà vẫn hiểu được một cách chính xác các giá trị tư tưởng, văn hóa, triết học của Trung Quốc lẫn của người Việt.

Từ truyền thống văn hóa có sẵn, Hán học tiếp sức cho người Việt hình thành nền văn học độc lập của dân tộc và là nền tảng, cơ sở để sáng tạo ra chữ viết đầu tiên: chữ Nôm.

Sự thịnh vượng của Hán học thời kỳ nước Việt giành được quyền tự chủ so với thời kỳ nội thuộc cho thấy tính chất trang trọng, thâm trầm của loại chữ viết này rất phù hợp với kiểu nhà nước phong kiến và ý thức hệ Nho giáo lúc bấy giờ. Thời kỳ này, trường học, khoa thi đều dùng chữ Hán như một “phương tiện giao tế tao nhã” để ghi chép lịch sử, truyền đạt ý chỉ, thể hiện quan hệ, tình cảm vua-tôi và các tầng lớp nho sĩ. Cùng với những thăng trầm của lịch sử, văn học viết dần dần có được những vận hội mới, tạo được vị trí độc lập của mình sau một thời gian dài văn-sử-triết bất phân. Ba dòng tư tưởng NhoPhậtLão trở thành nguồn cảm hứng cho văn chương học thuật. Bên cạnh đó, đời sống tích cực gần thiên nhiên của con người thời kỳ này còn mang lại cho văn học nhiều ẩn dụ cao nhã nhưng cũng rất cận nhân tình.

Về mặt thể loại, hình thức; văn học viết thời kỳ đầu chủ yếu là thơ với hai loại: cổ thể và cận thể – tôn trọng khuôn phép mẫu mực của thơ ca Trung Quốc; ngoài ra theo Dương Quảng Hàm (trong quyển Văn học Việt Nam) thì văn viết trong thời kỳ đầu “có nhiều thể, nhưng có thể chia ra làm ba loại lớn” gồm:

Ø  Vận văn: tức loại văn có vần

Ø 
Biền văn: tức loại văn không có vần mà có đối (như câu đối)

Ø 
Tản văn hoặc văn xuôi: tức loại văn không có vần mà cũng không có đối.
Cuối thế kỷ 18 trở đi, khi chữ Nôm hình thành thì văn học viết có vài chuyển biến trong sáng tác: văn học từ chiếu cung đình dần thâm nhập vào đời sống thường nhật (văn chương bình dân) và cái tôi cá nhân bắt đầu được đề cập đến. “Bà Chúa thơ Nôm” Hồ Xuân HươngTruyện Kiều (của Nguyễn Du) được xem là những thành tựu nổi bật của chữ Nôm trong văn học Việt Nam.

Từ khi có việc truyền bá chữ quốc ngữ vào Việt Nam thì diện mạo văn học có những thay đổi sâu sắc và toàn diện. Ngoài ảnh hưởng các dòng tư tưởng truyền thống phương Đông thì sự thâm nhập của phương Tây mang đến cho văn học viết con đường “hiện đại hóa” từ hình thức, thể loại đến tư tưởng và nội dung sáng tác. Riêng về thể loại nếu so sánh văn học viết Việt Nam giữa hai thời kỳ lớn: Văn học Trung đạiVăn học Hiện đại thì có thể hiểu một cách tổng quát về các thể loại chính như sau:

Ø  Thời kỳ văn học Trung đại (từ thế kỷ 10 đến cuối thế kỷ 19) gồm: tự sự và trữ tình.

Ø 
Thời kỳ văn học Hiện đại (từ đầu thế kỷ 20 đến nay) gồm: tự sự, trữ tình, kịch.

Sau hơn 10 thế kỷ hình thành và phát triển, văn học viết Việt Nam đạt được những thành tựu nhất định và vẫn đang tiếp tục “dòng chảy” của mình để có thể hội nhập vào nền văn học chung của thế giới.

3. Nguyên nhân ảnh hưởng


Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, chúng ta chịu ảnh hưởng lớn của Trung Hoa trên rất nhiều phương diện trong đó có văn học, sự ảnh hưởng này đa phần diễn ra vào thời Bắc Thuộc một ngàn năm của dân tộc từ thời Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc của An Dương Vương(207TCN)
cho đến khi Ngô Quyền giành lại độc lập từ nhà Nam Hán (938). Thời kỳ này đã bắt đầu có sự truyền bá vừa ôn hòa vừa cưỡng bức lối sống văn minh- văn hóa Hán vào đất Việt. Truyền bá ôn hòa qua giao lưu kinh tế-văn hoá, qua di dân Trung Quốc sang, còn truyền bá cưỡng bức, qua bọn đô hộ với các biện pháp hành chính- quân sự. Như thế, trên cơ tầng văn hóa Việt đã vận hành một cơ chế Hán, trong đó lối sống và văn hóa Việt tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với văn hóa Hán, đã diễn tiến dưới ảnh hưởng của văn hóa Hán, và đang dần dần biến đổi từ mô hình Đông Sơn cổ truyền sang một mô thức mới: Việt- Hán.

Đầu Công Nguyên triều đình phương Bắc có biến luận, Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, lập ra triều Tân (8_23). Sau đó, Đông Hán thay thế triều Tân (23_220), trong đó giai đoạn từ 25 đến 88 là thời kỳ Trung Quốc ổn định ở bên trong và có điều kiện mở rộng bành trướng ra bên ngoài.

Trước tình hình đó, một số khá đông quý tộc, địa chủ, sĩ đại phu Trung Quốc đem theo cả gia đình và tộc thuộc di cư xuống Giao Châu, dựa vào chính quyền đô hộ mà sinh cơ lập nghiệp, xâm lấn ruộng đất và tài sản của người Việt. Lúc này, đại diện cho chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ là Tích Quang và Ở Cửu Chân là Nhâm Diên. Cả Tích Quang và Nhâm Diên trước sau đều dùng lối sống Hoa cải biến phong hóa Việt. Họ mở trường dạy lễ nghĩa và buộc người Việt phải tuân theo lễ nghĩa”Trung Quốc. Từ những việc như lấy vợ gả chổng cho đến việc ăn mặc, thậm chí cả việc tổ chức khai thác nông nghiệp cũng đều phải theo truyền thống, tập quán và kỹ thuật Hán….Mức độ bóc lột và đồng hóa của chúng ngày càng trở nên khốc liệt.Ngoài việc bắt nhân dân ta phải cống nạp nhiều của quý, vật lạ của phương Nam, nhà Hán còn bóc lột tô thuế nặng nề, chiếm đất lập trang trại, nắm độc quyền sản xuất và mua bán muối. Nhà Hán ra sức củng cố và hoàn thiện chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ, tìm mọi cách xoá bỏ lối “dùng tục cũ mà cai trị”, áp dụng pháp luật Hán, bắt nhân dân ta phải tuân theo lễ giáo phong kiến Hán. Việc chúng mở ra một vài trường học cũng chỉ là để đào tạo một số thuốc viên đắc lực cho chính quyền đô hộ và tuyên truyền những tư tưởng đạo đức phong kiến Hán.

Sau hàng chục thế kỷ dưới sự cai trị và đồng hóa của người Hán, người Việt vẫn giữ được tiếng nói và nhiều phong tục riêng của mình. Tuy vậy, vẫn có sự ảnh hưởng nhất định về văn hóa, thể chế chính trị của Trung Quốc đối với người Việt, kể cả trong tư tưởng triết họcngôn ngữ.

Do không có chữ viết riêng (theo truyền thuyết thì người Việt cổ có chữ viết riêng nhưng bị người Hán hủy bỏ, cấm đoán dẫn đến mất hẳn), trước khi chữ quốc ngữ ra đời, người Việt phải dùng chữ Hán để viết nhưng họ đọc theo âm Việt (chữ Nôm cũng dựa vào chữ Hán nhưng phức tạp hơn và chưa được chuẩn hóa nên cũng không được phổ cập). Cùng với tâm lý ngưỡng mộ văn hóa Trung Hoa, xem đó là mẫu mực, văn hóa Trung Quốc cũng hòa nhập vào văn hóa Việt. Từ Hán-Việt đã góp phần làm phong phú vốn từ của tiếng Việt, nhiều khi không tìm được từ thuần Việt tương đương để thay thế.

Trong điều kiện lịch sử  như vậy, văn học Trung Hoa nói riêng và văn hóa Trung Hoa nói chung  đã du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và có ảnh hưởng lớn đến nền văn học, văn hóa  của dân tộc. Cho đến ngày nay văn học hiện đại Trung Hoa vẫn có tầm ảnh hưởng đến ViệtNam nhưng bằng con đường giao lưu văn hóa trong xu hướng toàn cầu hóa.

NỘI DUNG

Chương I: Sự ảnh hưởng về mặt chữ viết


1. Theo truyền thuyết về nguồn gốc chữ viết và nguồn gốc dân tộc Việt

Tiếng nói là nhịp cầu cảm thông để trao đổi tư tưởng trong sinh hoạt xã hội giữa con người cùng dòng giống xứ sở. Có con người là có ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn tự có ảnh hưởng rất lớn và quan hệ mật thiết đến sự hưng vong của giống nòi. Dân tộc có một trình độ văn hóa cao, càng văn minh thì họ lại càng chú trọng đến ngôn ngữ văn tự. Vậy chữ viết Việt Nam bắt nguồn từ lúc nào ? Thời gian đấy lại có liên quan gì đến các ngoại tộc không ?

Theo truyền thuyết, chữ viết đầu tiên của nước ta có từ thời Hùng Vương mà giới học giả gọi là chữ khoa đẩu. Loại chữ này vốn cũng chỉ là phỏng đoán, mà người ta cũng không biết liệu có hay không liên quan đến cùng loại chữ của Trung Quốc. Ở đây chúng ta thấy sự tương đồng. Mà ngay từ nguồn gốc dân tộc Việt, ta cũng lại thấy có sự dây mơ rễ má rất làng nhằng giữa người Việt và người Hán.

Theo truyền thuyết, khai mở Hồng Bàng thị (có lẽ vào khoảng 2879 – 258 tr. CN) là Lộc Tục, con trai vua Ðế Minh, vốn là cháu ba đời của Thần Nông. Sau Ðế Minh nhường ngôi lại cho trưởng tử là Ðế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ phía bắc giáp Ðộng Ðình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp Ðông hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm tuất (2879 tr. CN) và lấy con gái Ðộng Ðình Quân là Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân Sùng Lãm. Lạc Long Quân lấy con gái vua Ðế Lai là Âu Cơ, sinh được một trăm côn trai, năm mươi theo mẹ lên núi cao, năm mươi theo cha xuống biển cả. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương, tức Quốc tổ của dân tộc Việt Nam ngày nay.

Như vậy, theo truyền thuyết thì dân tộc Việt và dân tộc Hán vốn có cùng một gốc với nhau. Tuy truyền thuyết cũng chỉ là truyền thuyết nhưng chưa có ai chứng thực được sự thực lịch sử chính xác thời kì này. Từ thời cổ đại, cũng đã có sử nhắc đến dân tộc Bách Việt, một số học giả cho rằng người Việt Nam là từ tộc Bách Việt này bị phân cách ra, di cư về nam và trở thành người Việt. Nhưng theo cuốn Vườn Địa Đàng phương Đông thì với điều kiện của khu vực Đông Nam Á, từ rất sớm đã xuất hiện dấu tích người tiền cổ, vì vậy, giả thuyết trên có nhiều khả năng là không được chính xác cho lắm.

Về nguồn gốc dân tộc Việt, đã có nhiều tranh cãi, nhưng dù như thế nào cũng không phủ nhận được mối liên hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, trên nhiều phương diện, nếu đi theo truyền thuyết Hồng Bàng thị thì có lẽ chữ viết thời bấy giờ cùng là một loại chữ với Trung Hoa cổ.

2. Do xâm lược ngoại tộc ( Chủ yếu bởi thời Bắc thuộc )

Bàn về thời Hồng Bàng, Phạm Trần Anh cho rằng các sử gia Hán tộc với quan niệm “Đại thống nhất”, tự cho mình là trung tâm của thế giới, cái rốn của nhân loại, Hán tộc là tộc ưu việt, nên trong kinh thi có câu :”Huệ thử Trung Quốc, dĩ tuy tứ phương”. Đó là chủ trương bành trướng của Hán tộc ”dĩ hạ biến di”, nghĩa là lấy cái cao thượng của Đại Hán để cải hoá man di. Chính vì vậy họ miệt thị các dân tộc khác, chủ trương tiêu diệt văn tự của các dân tộc khác. Âm mưu nô dịch văn hoá rồi tiến tới đồng hoá. Lợi dụng Hán tự là loại văn tự duy nhất của Hán tộc, các sử gia Trung Quốc từ cổ đại đến nay, thường tìm cách xuyên tạc, bóp méo sự thật, sửa đổi lịch sử của các dân tộc bị Hán tộc đàn áp hoặc đô hộ cho phù hợp với sử quan Đại Hán, mục đích để đánh đổ lòng tự hào của các dân tộc khác cho dễ bề đồng hoá và thống trị.Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Hiện nay, ở Việt Nam còn lưu giữ được số hiện vật như đỉnh cổ có khắc chữ tượng hình (chữ Hán cổ). Ðiều này là một phần chứng minh được rằng chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi. Ðến thế ký VII – XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán. Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng chữ Hán có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.

3. Do học hỏi và phải vận dụng bởi điều kiện lịch sử

Đến thế kỷ X, khi người Việt giành được độc lập và dựng nên quốc gia Đại Việt, tiếng Việt trở thành tiếng phổ thông và tách khỏi tiếng Mường. Suốt mười thế kỷ độc lập, các triều đại quân chủ Việt Nam tự nguyện tiếp nhận mô hình văn hóa Hán một cách chủ động và thống nhất trong cả nước. Chữ Hán được dùng làm quốc tự trong triều đình, trong thi cử, trong văn chương bác học. Đó là thứ chữ của giai tầng thống trị được suy tôn trọng vọng và là chữ chính thống. Song song với nó, tiếng Việt tồn tại trong quảng đại quần chúng và là quốc ngữ. Do đó dẫn đến một nghịch lý: quốc tự của triều đình không phải để ghi quốc ngữ. Vì vậy người Việt phải mượn ký tự chữ Hán để ghi tiếng Việt, đánh dấu sự ra đời của chữ nôm. Đó là điều đáng ngạc nhiên vì khi đó các nước láng giềng của ta như Lào, Cam-pu-chia, Thái lan… đều mượn chữ ấn Độ để sáng tạo nên chữ viết của họ. Do vậy quốc tự và quốc ngữ của họ là một và được dùng đến bây giờ.
Như vậy, do điều kiện lịch sử mà giai cấp phong kiến đương thời đã phải dùng chữ Hán để điều hành và phổ cập văn hóa đất nước. Thứ nhất là do chúng ta vừa mới thoát khỏi ách đô hộ phương Bắc, cần ổn định đất nước ngay, mà tỏng suốt gần một ngàn năm, Hán tự đã thấm sâu vào giới trí thức dân tộc, ngay cả nho giáo cũng là một phần của chế độ phong kiến nên chữ Hán được mặc nhiên sử dụng như chữ quốc ngữ giai đoạn đầu này. Sau khi đã ổn định một thời gian thì người ta bắt đầu muốn có một thứ chữ riêng của dân tộc mình, thế là chữ Nôm ra đời. Tuy nhiên, sự gần gũi chữ chữ Nôm và chữ Hán cũng chứng tỏ sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa Trung Hoa. Và trong suốt hai ngàn năm, Trung Hoa là đất nước đã có ảnh hưởng sâu đậm nhất đến Việt Nam về tất cả mọi mặt.

Vì chữ nôm để ghi tiếng Việt nên người Việt dùng để sáng tác thơ ca theo tiếng mẹ đẻ của mình. Còn chữ Hán được dùng để sáng tác thơ kiểu Trung Quốc (thơ Đường…), và đặc biệt để viết văn xuôi (Hoàng Lê Nhất thống trí, Truyền kỳ Mạn lục, Lĩnh nam Trích quái…). Thế kỷ thứ 17 – 18 được đánh dấu bởi sự bùng nổ của văn chương chữ nôm với các tác phẩm truyện, thơ, ngụ ngôn nổi tiếng như (Kiều của Nguyễn Du, bản dịch Chinh Phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, thơ Hồ Xuân Hương…). Tiếng Việt thời đó hình thành hai lớp từ mượn Hán: lớp Việt hóa hoàn toàn: ví dụ: tiền, hàng, chợ, mùa… Và lớp Hán Việt là những từ mượn Hán và chưa Việt hóa triệt để: chẳng hạn ta có từ núi nên không thể nói “tôi lên sơn” nhưng ta lại nói “có cô sơn nữ ở vùng sơn cước hát bài sơn ca trong một sơn trại…” Chữ nôm do vậy chưa bao giờ được thống nhất về cách ghi, mỗi người có thể ghi khác nhau. Điều đó lý giải tại sao cùng một tác phẩm chữ nôm lại có nhiều cách “luận” và hiểu khác nhau.

Chương II: Ảnh hưởng trong văn học thời kì cổ-trung đại


1. Ảnh hưởng về mặt hể loại

Văn học Việt Nam là nền văn học của nhiều dân tộc, trong đó văn học của người Việt (Kinh) đóng vai trò rất quan trọng. Văn học của người Việt có hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian ra đời sớm hơn, dồi dào về số lượng, đa dạng về thể loại. Văn học viết chính thức được xây dựng từ thế kỷ X trở đi.

Nhìn chung,văn học của người Việt đều chịu ảnh hưởng đậm nét của văn học Trung Quốc: từ tư liệu, điển cố văn chương, thể thơ, thể văn đến cả lối khắc bản gỗ để in sách kể từ “ngàn năm Bắc thuộc “ cho đến về sau này.trong đó,chúng ta chịu ảnh hưởng về thể lọai văn học Trung Quốc một cách rõ nét

1.1.  Về thi ca

1.1.1 Thơ Đường

Nói về thơ ở Trung Quốc, thì nổi tiếng và đặc săc tiêu tiểu là thể thơ Đường. Việt Nam chúng ta cũng chịu ảnh hưởng và phát triển nó trong một thời gian dài. Đường luật là một thể thơ tiếng Việt mà cách luật mô phỏng và chịu ảnh hưởng thi luật Trung Hoa

Luật thơ này áp dụng cho các thể ngũ ngôn và thất ngôn (câu thơ 5 âm tiết, câu thơ 7 âm tiết), được đặt ra từ đời Đường (618 – 907) nên gọi là thơ Đường luật (ở Trung Hoa khi đặt ra thể này, người ta gọi nó là cận thể – thể gần đây – để phân biệt với cổ thể – thể xưa, tức là thể cổ phong vốn có từ trước thời Đường). Cách luật của thể thơ này rất chặt chẽ, gồm các yêu cầu về

Ø  1.Vần

Ø 
2.Đối

Ø 
3.Luật

Ø 
4.Niêm

Ø 
5.Cách bố cục

Về vần (chữ Hán: vận, trỏ những âm tiết có chung phần vần hoặc phần vần tương đối gần nhau), thơ Đường luật thường dùng vần bằng, ít dùng vần trắc; mỗi loại thơ chỉ dùng một vần (độc vận); một bài thơ Đường luật bát cú (ngũ ngôn hoặc thất ngôn) có cả thảy 5 chỗ hiệp vần, giao ở cuối câu đầu và cuối câu chẵn; như vậy ở đây chỉ dùng vần chân (cước vận). trường hợp gieo vần sai lạc (lạc vận) hoặc gượng ép (cưỡng áp) đều là sai phạm

Về đối (đối: dặt sóng đôi sao cho ý và chữ đối xứng nhau) gồm: đối ý – hai ý tưởng cân xứng với nhau, và đối chữ – những chữ đêm đối phải đối nhau về thanh (bằng đối với trắc và ngược lại) và tương xứng về từ loại (phải cùng một từ loại, tức cùng là danh từ hoặc cùng là động từ, v.v…); một bài thơ Đường luật bát cú (thất ngôn, ngũ ngôn)phải có đối ở 4 câu giữa bài: câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6.

Về luật, đây chủ yếu nói về luật bằng trắc, tức là sự quy định về cách phân bố các âm tiết mang thanh bằng và các âm tiết mang thanh trắc. nếu âm tiết (chữ, tiếng) thứ 2 của câu thơ thứ nhất là vần bằng thì bài thơ thuộc luật bằng, nếu vần trắc thì bài thơ thuộc luật trắc. Sự sắp xếp theo luật này tạo cho ở mỗi câu, các cặp bằng trắc lần lượt thay nhau; ở mỗi cặp câu (còn gọi là “liên”), các âm tiết tương ứng ở các câu số lẻ và số chẵn phải mang thanh điệu ngược nhau (trừ các âm tiết thứ 5 và thứ 7 ở liên đầu)

Việc theo đúng luật bằng trắc như quy định là việc rất khó nên cũng có lệ “bất luận” (không kể) tức là có một số vị trí không cần giữ đúng luật; lệ này là “nhất tam bất luận” (các âm tiết thứ nhất và thứ 3) cho thể ngũ ngôn, và “nhất tam ngũ bất luận” (các âm tiết thứ nhất, thứ 3 và thứ 5)cho thể thất ngôn; các vị trí này có thể là bằng hay trắc đều được. Tuy vậy nếu theo lệ bất luận này mà chỗ đáng trắc lại đổi ra bằng hoặc ngược lại, thì sẽ khiến câu thơ thành ra khó đọc.

Về niêm (niêm: nghĩa đen là dính) tức là sự gắn bó về âm luật giữa 2 câu thơ: chúng là niêm với nhau khi âm tiết thứ 2 của chúng theo cùng một luật (bằng cùng bằng, trắc cùng trắc). ở một bài Đường luật bát cú, những câu phải niêm với nhau là : 1 và 8; 2 với 3; 4 với 5 ; 6 với 7; 8 với 1. khi bị đặt sai, không niêm với nhau theo lệ trên, thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền), coi như một sai phạm không được mắc

Về bố cục, một bài bát cú (ngũ ngôn, thất ngôn) có 4 phần: đề, thực, luận, kết:

Ø 
1. Đề gồm phá đề (câu 1) là mở bài và thừa đề (câu 2) là nói với câu phá mà vào bài.

Ø 
2. Thực (hoặc trạng) (hai câu 3 và 4) là giải thích rõ ý của đầu bài

Ø 
3. Luận (hai câu 5 và 6) là bàn rộng về nghĩa của đầu bài

Ø 
4. Kết (hai câu 7 và 8) là tóm tắt ý nghĩa toàn bài mà thắt lại

Về nhịp, câu thơ Đường luật ngắt theo nhịp 4/3 (thất ngôn) hoặc 2/3 (ngũ ngôn); nói chung các thể thơ mô phỏng thi luật trung Hoa đều ngắt nhịp “chẵn trước lẻ sau”, khác với các thể thơ tiếng Việt thuần túy vốn ngắt nhịp “lẻ trước chẵn sau”.

Đường luật là thể chặt chẽ nên dễ thành gò bó, vì vậy ngoài biệt lệ về “bất luận” người ta còn thêm biệt lệ về “chiết vận” tức là bớt vần (bài 8 câu đáng 5 chỉ còn 4 vần, bài 4 câu dáng 3 chỉ còn 2 vần, bài 16 câu chỉ còn 8 vần nhưng 2 câu trốn vần đó phải đối nhau, gọi là song phong). Người ta cũng đặt tên cho những “bệnh” thường hay mắc trong thể này như “khổ độc”, “phong yêu” (từ thứ tư hiệp vần với từ thứ bảy), “hạc tất” (một câu thơ bị cắt là ba nhịp). Trong khi đó, các thi gia thành thạo lại có lối chơi cố ý đặt sai một số vần, tạo ra các dạng gọi là “cô nhạn xuất quần” (nhạn lẻ ra bầy), “cô nhạn nhập quần” (nhạn lẻ vào bầy), v.v

Thơ Đường luật được biết đến và sử dụng vào sáng tác văn học ở Việt Nam từ khá sớm. Cùng với việc làm thơ phú bằng chữ Hán, từ thời Trần, với Hàn Thuyên, Chu An, Nguyễn Sĩ Cố, v.v… luật thơ Đường bắt đầu được áp dụng vào sáng tác bằng tiếng Việt (ghi bằng chữ Nôm). Ở cả sáng tác bằng chữ Hán và chữ Nôm theo Đường luật, các thi gia Việt Nam từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX đã đạt tới những mẫu mực ở đỉnh cao, với nhiều sáng tác độc đáo của những tài năng lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, v.v… Ngoài những thể tài học theo Trung Hoa như bát cú, tứ tuyệt, thủ vĩ ngâm, liên hoàn, thuật nghiạch độc, yết hậu, lục ngôn thể, hoa vận, liên ngâm, v.v…các thi gia Việt Nam còn tạo ra các lối vĩ tam thanh, song điệp, tiết hạ (triệt hạ), hoặc dùng các thể bát cú, tứ tuyệt theo lối liên hoàn dể viết các truyện thơ như “Tô Công phụng sứ”, “Vương Tường”, “Lâm tuyền kì ngộ”

Thơ đường luật dựa vào thi cử theo học chế Hán Nho nên nó cũng trở thành một loại văn cử nghiệp, rất phổ biến trong giới nho sĩ, từ các nho sinh đến hàng quan lại, vua chúa, dù tài thơ cao thấp khác nhau xa. Đến đầu thế kỉ XX, loại thơ này bộc lộ những sự bất cập và bất lực trong khả năng thể hiện những xúc cảm mới của con người ở thời buổi mới, và đã trở thành một trong những đối tượng công kích và từ bỏ của Phong trào thơ mới. Tuy vậy thể thơ này vẫn còn được dùng, nhất là trong những người từng tiếp xúc với văn hóa Hán Nho; dấu vết của câu thơ Đường luật vẫn còn thấy rõ ngay trong sáng tác của nhiều nhà thơ đương đại.

1.1.2. Cổ phong

Một thể thơ tiếng Việt mô phỏng theo thể thức Trung Hoa, cổ phong hoặc cổ thể ở trung Quốc là thể thơ có từ trước đời Đường, tức là thế kỉ thứ VI. Thể thơ này chỉ hạn định số âm tiết (tiếng, chữ) trong mỗi câu thơ (thường là ngũ ngôn – câu thơ 5 âm tiết, hoặc thất ngôn – câu thơ 7 âm tiết, đôi khi cả lục ngôn – câu thơ 6 âm tiết) và có yêu cầu về gieo vần (cước vận – vần chân, gieo ở âm tiết cuối câu thơ, có thể vần bằng hoặc vần trắc, với các dạng độc vận – toàn bài dùng nguyên một vần, hoặc liên vận – một bài thơ dùng nhều vần), ngoài ra không có những yêu cầu chặt chẽ gì khác ( nghĩa là không có niêm, luật, đối như thơ Đường). Bài thơ cổ phong cũng không hạn định số câu, thường cứ từ 4 câu trở lên và dài đến bao nhiêu cũng được. Các thi gia thường làm bài gồm 4 câu (ở Trung Quốc gọi là tuyệt cú, ở Việt Nam gọi là Tứ tuyệt) hoặc 8 câu, cũng có bài 6 câu hoặc 12 câu. Những bài thất ngôn dài quá 8 câu và ngũ ngôn dài quá 16 câu gọi là trường thiên (thể hành)

Ví dụ bài “Đêm mùa hè” sau đây của Nguyễn Khuyến là bài cổ phong ngũ ngôn bát cú, một vần trắc

Tháng tư đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha
Đàn muỗi bay tơi tả
Nỗi ấy ngỏ cùng ai
Cảnh này buồn cả dạ
Biếng nhắp năm canh chày
Gà đà sớm giục giã

Thể thơ cổ phong được sử dụng ở văn học Việt Nam có phần ít phổ biến hơn so với thể thơ Đường luật. Trong phong trào thơ mới (1932 – 1942), một số tác gia có lưu ý dùng thể thơ này (ví dụ: Thế Lữ, Bích Khê làm những câu thơ 7 chữ dùng toàn thanh bằng hoặc toàn thanh trắc; Thâm Tâm làm các bài hành ngũ ngôn hoặc thất ngôn…), nhưng cách sử dụng của họ linh hoạt, gần như không nhằm khôi phục thể thơ này mà chỉ vận dụng nó ít nhiều như những yếu tố tạo nên những phong cách thơ trong nền thơ tiếng Việt hiện đại.

1.1.3. Phú

Phú là một thể loại tiếp nhận từ truyền thống văn học Trung Hoa (xuất hiện từ cuối thời Xuân Thu) và được Việt hoa suốt thời kỳ văn học trung đại Việt Nam. Phú hưng thịnh vào đời TRân – Lê và thời sau đời nào cũng có. Phú Nôm có rất sơm s từ đời Trần và tới cuối thời Lê trở đi càng đạt tới mức điêu luyện, tinh xảo và có đời ống lịch sử của nó.

Phú là một thể loại cổ điển có vị trí quan trọng trong văn học Việt Nam. Đây là thể loại chảng những có nội dung độc đáo mà còn khả năng rèn luyện ngôn ngữ, có tác dụng làm ho các bài cáo – hịch – văn tế thêm điêu luyện. Trong quá trình Việt hóa, phú  đã từ ngợi ca tán tụng vua chúa dần dân chuyển hóa thành phú tỏa chí – phú giáo huấn – phú phong cảnh – phú ẩn cư – phú tuyên truyền – châm biếm- phê phán.

1.1.4. Ca dao

thơ ca dân gian người Việt (còn gọi là ca dao) được sáng tác từ rất sớm, song việc ghi chép lại mới chỉ được tiến hành từ cuối thế kỷ XVIII trở lại đây. Căn cứ vào những tài liệu đã sưu tầm được, hiện có khoảng 13.000 bài ca dao. Ca dao người Việt có khi chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc một cách trực tiếp. Thí dụ, đây là lời của một chàng trai ở Nam Bộ:

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Ai hỏi đón chi đó giống in tiếng con bạn hiền
Đây anh lo phản mại kiếm tiền nuôi thân

Hai dòng đầu của bài ca dao là hai câu thơ trong bài Phong Kiều dạ bạc (Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều) của Trương Kế (đời Đường), có nghĩa là: Ngoài thành Cô Tô có ngôi chùa Hàn Sơn, nửa đêm tiếng chuông vẳng đến thuyền khách. Hai dòng này gợi lên tính chất khuya khoắt về mặt trời gian và chỉ liên hệ với hai dòng sau của bài ca dao về mặt vần (thuyền vần với hiền). Có thể nói đây là trường hợp vận dụng văn học chữ Hán không thật nhuần nhuyễn, bởi vì xét cho kĩ nội dung giữa hai dòng đầu với hai dòng sau không có mối liên hệ hữu cơ. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng, trong các cuộc hát đối đáp ngày trước, nhiều câu mở đầu chỉ có tính chất bắt vần đưa đẩy để cho cuộc hát không bị gián đoạn

Không thèm như chị Võ Hậu đời Đường
Làm cho bại hoại cang thường hư danh

Bài ca dao đã nhắc đến nhiều điển tích văn học Trung Quốc

+ Bà Mạnh: Mạnh mẫu, là thân mẫu Mạnh Tử (372-289 trước Công nguyên). Bà Mạnh là người hiền đức

+ Bà Khương: Khương Hậu, vợ hiền của Chu Tuyên Vương. Tuyên Vương thường ngủ muộn, Khương Hậu muốn can ngăn liền bỏ trâm cài đầu, ngọc đeo tai rồi tự giam mình trong cung để chịu tội (ý nói lỗi của Tuyên Vương là do mình). Tuyên Vương cảm động, từ bỏ thói xấu, chuyên cần công việc

+ Võ Hậu: Võ Tắc Thiên sinh năm 662, vợ Đường Cao Tông. Khi Cao Tông chết, bà lập và phế hai vua rồi sau tự làm vua

Ca dao người Việt còn chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc một cách gián tiếp. Quá trình này diễn ra như sau: Lúc đầu những điển tích, tên đất, tên người của tác phẩm văn học Trung Quốc đi vào những tác phẩm lớn của văn học viết của người Việt, sau đó các tác giả thơ ca dân gian người Việt đã tiếp thu những điển tích này. Thí dụ, Kim Vân Kiều truyện là tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân (đời Thanh, Trung Quốc). Tác phẩm này đã vào Việt Nam khoảng những năm 60, 70 của thế kỷ XVIII. Dựa theo nó, Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều với 3.254 câu thơ lục bát. Ca dao người Việt đã tiếp thu văn học Trung Quốc qua Truyện Kiều.

Trong thực tế có khi rất khó xác định đâu là ảnh hưởng trực tiếp, đâu là ảnh hưởng gián tiếp.

1.2. Về văn xuôi
1.2.1  Biền ngẫu
(Biển: hai con ngựa chạy sóng đôi, ngẫu: có hai nghĩa: tình cờ, hoặc từng cặp)
Dạng thức câu văn( chữ Hán hoặc chữ Nôm) được tổ chức theo một số quy tắc tương đối chặt chẽ về số lượng từ (chữ), về nhịp, về tính cân đối trong ngữ nghĩa. “Biển văn”, trong văn học chữ Hán ở Trung Hoa có từ thời Lục Triều với lối cổ thể, theo đó, chỉ cần những cặp câu đối nhau, không cần có sự hiệp vần, cũng không hạn chế số lượng từ (chữ) và cách đặt câu. Ví dụ: Hịch tướng sĩ văn (chữ Hán) của trần Quốc Tuấn (Việt Nam) là được viết theo lối này
Biền văn ở văn học chữ Hán đến thời nhà Đường (Trung Quốc) đi dần đến ổn định thành từng cặp câu 10 từ, mỗi câu ngắt làm hai nhịp 4/6 gọi là lối cận thể (thời Đường gọi là cận thể để phân biệt với lối cổ thể nói trên), lại cũng gọi thể biền lệ (biền:nghĩa như trên, lệ: từng đôi một). Thể biền lệ đời Đường chưa bắt buộc phải có niêm, đến đời Tống mới đặt thêm yêu cầu niêm và đưa vào trường ốc, gọi là thể tứ lục. Ví dụ: “Bình Ngô đại cáo” do Nguyễn Trãi soạn, là được viết theo thể tứ lục này: “Thừa thắng trường khu, Tây kinh kí vi ngã hữu – Tuyển phong tiến thủ, Đông đô tận phục cựu phong” (nghĩa: thừa thắng ruổi dài, Tây kinh quân ta chiếm lại – Tuyển binh tiến đánh, Đông đo đất cũ thu về). Văn biền ngẫu được tiếp nhận ở văn học Việt Nam, cả trong những sáng tác viết bằng chữ Hán lẫn những sáng tác bằng chữ Nôm. Ngay ở câu văn xuôi hiện đại Việt Nam cũng còn những dấu vết của lối tổ chức câu văn theo kiểu biền ngẫu
a.  Bát cổ

Một thể văn chữ Hán được dùng trong khoa cử. Ở Trung Quốc, văn bát cổ xuất hiện từ thời Minh, thịnh hành dưới triều Thanh. Ở Việt Nam, văn bát cổ được áp dụng vào khoa cử từ năm Bảo Thái thứ 9 (1728) đời Lê Dụ Tông, do sáng kiến của Nguyễn Công Hãng (1680 – 1732)   Bát cổ (bát: tám, cổ: vế) tức là một đoạn văn gồm tám vế, không có vần nhưng có đối. Một bài “Kinh nghĩa” viết theo thể bát cổ gồm hai phần lớn
A – Phần đầu là “phát đoan” (mở đầu) gồm ba phần nhỏ Ø  1. Phá đề: gồm hai câu mở bài, nói về mặt chữ và nghĩa của đề Ø  2. Thừa đề: nối theo đoạn phá vài ba câu, nêu rõ ý đồ của phá đề Ø  3. Khởi giảng: nói khai mào đại ý của đề mục.
Ở toàn bộ phận phát đoan, về thể văn: không có yêu cầu về vần và đối (tức là văn ở đây không phải là văn biền ngẫu), về ý: các phần phá đề và thừa đề được coi là lời người viết bài nói; các phần từ khởi giảng về sau, người viết phải thay lời người xưa ma nói
B – Phần sau là “nghị luận” gồm 4 phần nhỏ Ø  4. Khởi cổ (hoặc khai giảng – mở ý đề bài, cuối đoạn này có một câu hoàn đề nhắc lại câu đề bài) Ø  5. Trung cổ (giải thích rõ nghĩa của đề bài) Ø  6. Hậu cổ (bàn rộng về ý của đề bài) Ø  7. Mạt cổ (hoặc kết cổ, kết tị – đóng lại ý của đề bài, cuối đoạn này có một vài câu thắt đầu bài lại, gọi là thúc đề hoặc thúc kết)
Mỗi phần nhỏ (4-7) đều gồm hai vế đối nhau; toàn bộ phần nghị luận có 8 vế; bát cổ thực sự chỉ gồm phần nghị luận 8 vế này
b.  Bia
Một loại hình văn bản văn hóa, đồng thời cũng là một thể loại văn học phổ biến ở các nền văn học phương Đông thời cổ. Tập quán dựng bia và làm văn bia có nguồn gốc từ Trung Hoa và được tiếp nhận ở nước ta từ rất sớm. Văn bia dùng để ghi chép công đức, được khắc lên các chất liệu bền vững như đá, đồng với dụng ý rõ dàng là để truyền tụng lâu dài cho đời sau biết, nên thường ngắn gọn. Bia gắn với một con người cụ thể và thường là một phần của lăng mộ; tùy theo vị trí đặt bia mà có các loại: bia đề trên mộ (mộ bi, mộ biểu,…), bia để cạnh hành lang trước mộ (thần đạo bi), bia chôn cùng với quan tài (mộ chí, mộ chí minh, khoáng chí, khoáng minh,…). Về sau bia không chỉ để trên mộ mà còn dựng ở chùa, lầu, gác, thậm chí ở đầu đường. Nhưng dù dựng ở đâu, bia cũng nhằm ghi khắc hoặc ca tụng công đức một hoặc nhiều nhân vật có nghĩa cử tốt đẹp hoặc sự nghiệp liên quan đến địa điểm dựng bia. Văn bia chỉ ghi những nét lớn về phẩm cách, đức hạnh, những thành đạt về học vấn, công danh, không ghi những điều thiện nhỏ hoặc tâm sự sâu kín, càng không bao giờ ghi những nhược điểm, lầm lỗi của người được dựng bia.
Bia như một loại văn bản vẫn còn được dùng trong đời sống hàng ngày, chủ yếu là loại bia mộ và một số bia công đức dựng ở các chùa, đền; ngoài ra còn thấy một số loại hình bảng đồng(“bảng lưu niệm”, gắn ở một số địa danh lịch sử, văn hóa, v.v…). Xét về ý nghĩa văn học, đáng chú ý nhất là những văn bản bia thời Lý – Trần, như “Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh” (bài minh trên bia chùa Linh Xứng, 1126), và “Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh” (bài minh trên bia chùa Sùng Nghiêm,1118) do thiền sư Pháp Bảo ( thế kỉ XII) soạn, “Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi” (Bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, thế kỉ XII) do Lý Thừa Ân (thế kỉ XII) soạn, “Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” (bia tháp Sùng Thiện Diên Linh,1121) do Nguyễn Công Bật (thế kỉ XII) soạn, “Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo bi” (Bia Vĩnh Lăng Lam Sơn) do Nguyễn Trãi soạn, v.v
c.  Biểu
Một lại văn bản hành chính dưới chế độ quân chủ. Biểu là bài viết của thần dân hoặc quan lại dâng lên vua để bày tỏ một việc gì (trần tình biểu), hoặc tạ ơn (tạ biểu), hoặc chúc mừng (hạ biểu). Biểu cũng được đưa vào chương trình khoa cử theo học chế Hán Nho như một môn thi cho thí sinh. Được dùng để viết biểu thường là văn biền ngẫu chữ Hán.
d. Cáo

Một thể loại văn bản hành chính của nhà nước quân chủ, thường được dùng cho vua chúa hoặc thủ lĩnh, nhằm tổng kết một công việc, trình bày một chủ trương xã hội chính trị cho dân chúng biết. Cáo đã có ở Trung Quốc từ đời Tam Đại.
Cáo có thể được viết bằng văn xuôi, nhưng thường là được viết bằng biền văn. Được biết đến nhiều nhất trong thể loại này của văn học chữ Hán của Việt Nam là “Bình Ngô đại cáo” (1428) do Nguyễn Trãi soạn, nhân danh vua Lê Thái Tổ tuyên cáo với thiên hạ về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh, được viết theo thể văn tứ lục.
e. Hịch

Một thể loại văn bản, thường dùng cho tướng lĩnh, vua chúa, thủ lĩnh, nhằm kêu gọi, cổ động, thuyết phục dân chúng hưởng ứng một phong trào xã hội chính trị nào đó ở một thời điểm hệ trọng có liên quan đến đời sống của dân tộc, đất nước. Hịch có nguồn gốc từ Trung Quốc từ đời Chiến quốc. Ở Việt Nam, thể loại này được dùng khá sớm, tiêu biểu là “Hịch tướng sĩ” (khoảng trước năm 1258) của Trần Quốc Tuấn
Hịch trong chữ Hán có nghĩa là bài văn công khai (minh bạch chi văn) khắc vào gỗ để tuyên bố cùng mọi người, do vậy có tên là “lộ bố”(nói công khai). Hịch có thể được viết bằng văn xuôi, văn vần, văn biền ngẫu. Nhiều bài hịch ở Việt nam thế kỉ XVIII – XIX được viết bằng chữ Nôm, như các bài hịch của vua Quang Trung (1753 – 1792), các bài hịch chống Pháp (“Hịch đánh Tây” của Lãnh Cồ, “Hịch đánh chuột” của Nguyễn Đình Chiểu, “Hịch cần vương” ,v.v…).
1.2.2  Tiểu thuyết chương hồi

1.2.3  Giai thoại
Một thể loại truyện kể truyền miệng, lưu hành chủ yếu trong giới nhà văn và lớp công chúng yêu thích thơ văn, nhất là những người có hiểu biết Hán học và văn chương chữ Hán. Thuật ngữ “giai thoại” được mượn từ Trung Hoa (thoại: truyện kể; giai: hay, đẹp, thú vị). Mỗi giai thoại là một truyện kể ngắn gọn, lí thú, xoay quanh những nhân vật có thực, thường là những danh nhân. “Giai thoại văn học” là giai thoại nói riêng về các nhà văn, nhà thơ, các nhà khoa bảng, về những người sáng tác thơ văn và thưởng thức thơ văn. Giai thoại văn học Việt Nam xuất hiện khá sớm, ít nhất là từ khi chữ Hán được thông dụng trong việc học hành, thi cử, trong việc sáng tác và trước thuật. Các giai thoại sớm nhất hay còn được biết đến là giai thoại về các danh nhân thời Lý; tức là chúng được sáng tác muộn hơn một ít như là một loại tiểu dẫn độc đấo về xuật xứ một số sáng tác và hoạt động văn học của các nhân vật ấy. Giai thoại văn học phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỉ XV ( thời vua Lê Thánh Tông) đến nửa đầu thế kỉ XIX, gắn với các giai thoại thịnh vượng của văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm
Các giai thoại ở giới văn nhân nho sĩ Việt Nam – Giống như ở Trung Hoa – phần lớn đều nhằm đề cao tài năng của các danh nhân theo những chuẩn mực của nho học ( thông tỏ và vận dụng giòi chữ nghĩa thánh hiền, tài đối đáp bằng câu đối, thơ, phú, tài chơi chữ, dùng chữ, v.v…), ngoài ra, cũng chú ý phác họa cốt cách tài tử, đa tình của họ. Những giai thoại xuất hiện ở thời kì cuối chú ý nhiều hơn đến bản lĩnh, tính cách của danh nhân, đến quan hệ của danh nhân với giai nhân (tài tử – giai nhân), thái độ chính trị của các danh nhân, v.v. Trong những ghi chép sớm nhất, giai thoại văn học thường không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kì, có những mảng giai thoại xuất hiện thời kì sau lại gần với tiếu lâm. Tuy vậy giai thoại vẫn mang tính độc lấp như một thể lại độc đáo: nó thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng, tức là dạng thức tồn tại của các truyện kể dân gian
1.3. Câu đối
(Từ chữ Hán: doanh thiếp hoặc doanh liên, trong đó doanh: cột; thiếp: mảnh giấy có viết chữ; liên: đối nhau). Những câu văn đi đôi với nhau theo phép đối sao cho ý, chữ và luật bằng trắc cân xứng nhau. Người ta chia ra các thể: câu tiểu đối, câu đối thơ, câu đối phú   Câu tiểu đối (hoặc câu đối vặt): là những câu đối nhỏ, từ 4 chữ trở lại; hay nhất là theo được đúng luật đối bằng với trắc (và ngược lại), ví dụ: Tôi tôi vôi // bác bác trứng; nếu không thì chữ cuối vế trên phải trái luật bằng trắc với chữ cuối vế dưới, ví dụ: Ô, quạ tha gà // Xà, rắn bắt ngóe
Câu đối thơ là những câu làm theo thể ngũ ngôn hoặc thất ngôn, trên thực tế là hai câu thực và hai câu luận trong thơ Đường luật. Ví dụ: “Vạn kim bảo kiếm tàng thu thủy // Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ “(Khuyết danh – Đề hồ Hoàn Kiếm, chữ Hán, nghĩa: Gươm quý ngàn vàng, nước xanh lưu giữ. Tấm lòng trong trắng, ngọc hồ in); “Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo // Nhân tình bạc thế lại bôi vôi” (Tế Xương – Thơ Tết)
Câu đối phú là những câu làm theo lối đặt câu ở thể phú, mỗi vế có thể dải từ 8,9 đến 50,60 từ; mỗi vế gồm một đến ba đoạn hoặc nhiều hơn. nếu mỗi vế có hai đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài, gọi là cách cú (cách: ngăn, cú: câu). Ví dụ: “Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới // Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên” (khuyết danh). Nếu mỗi vế có từ ba đoạn trở lên thì gọi là “hạc tất” hay “gối hạc” (do chỗ thường có một đoạn ngắn xen giữa hai đoạn dài hơn, nên được hình dung như khớp gối ở chân con hạc). Ví dụ: ” Quan chẳng quan thì dân, chiếu trung đình ngất ngưởng ngồi trên, nào lềnh, nào trưởng, nào bàn ba, tiền làm sao, đóng góp làm sao, một năm mười hai tháng thảnh thơi, cái thủ lợn nhìn thầy đà nhẵn mặt // Già chẳng già thì trẻ, đàn tiểu tử lau nhau đứng trước, này thơ, này phú, này đoạn một, bằng là thế, trắc là thế khuyên điểm là thế, ba vạn sáu ngàn ngày thấm thoắt, con mắt gà đeo kính đã mòn tai” (Nguyễn Khuyến)
Về luật bằng trắc, ở câu đối phú chỉ xét đến chữ cuối vế và chữ cuối đoạn, gọi chung là “chữ đặt câu”: các chữ này ở hai vế phải đối nhau, bằng đối với trắc và ngược lại. Tuy không được dùng làm môn thi trong khoa cử, nhưng câu đối lại hay được dùng trong các giao tiếp trong giới Nho học (để thử tài học, khiếu thông minh, để bày tỏ chí hướng, hoặc để mừng nhau, phúng điếu nhau, đề ở các bia đình chùa, miếu mạ, phong cảnh, trang trí trong tư gia, v.v…) nên nảy sinh các loại câu đối tức cảnh (về cảnh vật), câu đối sách (lấy chữ hoặc nghĩa sách vở mà đối), câu đối chơi chữ (các loại câu đối dùng tiếng lóng, câu đối chiết tự, lấy ý nghĩa trong hình tượng chữ Hán mà đối). Nói chung văn trong câu đối đòi hỏi cô đọng. Câu đôi và hoành phi là những thể tài tác phẩm cỡ nhỏ nhất nhưng xung quanh chúng thường hình thành hàng loạt giai thoại
2. Ảnh hưởng về mặt nghệ thuật
Nghệ thuật ta thường thấy trong văn học là việc sử dụng những điển cố từ Trung Hoa.
Điển cố là:
Ø  Kho tàng quí báu của một nền văn hóa Ø  Hình ảnh sinh động của lịch sử Ø  Hình ảnh của đất nước quê hương Ø  Kinh nghiệm quý báu, trí tuệ phong phú được tình lũy qua nhiều thế hệ Ø  Phương châm đâọ đức của con người
Điển cố có bao gồm:
Ø  Điển tích: là từ hay nhóm từ được lấy ra từ những câu chuyện trong kinh, sử, các sách ngoại thư… về nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử, địa danh, những quan niệm trong cuộc sống. Ø  Điển cố: là từ hay nhóm từ mượn ý, lời từ câu thơ hoặc bài thơ của người trước hay được trích từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao… có tích truyện được lưu truyền.
2.1. Nguồn gốc điển cố trong văn học Việt Nam

Điển cố trong văn học Việt Nam nhìn chung được hình thành thư tịch cổ Trung Quốc, phân loại thành Kinh, Sử, Tử, Tập, Thơ văn và Hý khúc.
2.1.1 Điển cố từ Kinh bộ.

Đời Hán chủ trương phục Nho nên kinhd điển Nho gia trở thành sách gối đầu nằm cho các kẻ sĩ. Đặc biệt, việc thi cử hoàn toàn lấy Nho học làm cơ bản, làm thước đo học vấn và khả năng văn chương, làm con đường thăng quan tiến chức. Do vậy sách vở của người xưa được xem là thánh nhân, là những bài học kiểu mẫu, không thể sữa đổi và chối cãi. Vì vậy, người ta thường học thuộc và trích dẫn từ ngữ, câu cú, câu chuyện trong Tứ thư  – Ngũ kinh khi làm văn hoặc sáng tác giảng dạy à tư tưởng cho người đời sau.
Thư pháp sử dụng điển cố trong văn học cũng xuất phát từ quan niệm Nho giáo,  dựa trên nền tảng của kinh tịch cổ làm bài học và bằng chứng. Điển cố có từ Tứ thư – Ngữ kinh nhiều vô số. Kinh thi là tổng hợp thi ca sớm nhất của Trung Hoa, tương truyền do Khổng Tử san định. Có rất nhiều từ ngữ, câu thơ của Kinh thi được đời sau dùng làm điển cố trong văn học để diễn tả tình cmả bài học cho muôn đời.
Kinh Xuân Thu là kinh điển của Nho gia, lời văn sinh động, nội dung phong phú, ghi chép lịch sử Trung Hoa thời Xuân Thu. Đây là bộ lịch sử văn học nổi tiếng của Trung Quốc  ảnh hưởng rất lớn đến đời sau. Rất nhiều câu chuyện lịch sử và từ ngữ trong đó trở thành nguồn điển cố phong phú cho các tác phẩm văn học đời sau.
Luận ngữ là sách ghi chép về những lời trao đổi của Khổng tử và các học trò. Bút pháp trong luận ngữ cô đọng, giàu tính triết lý, đầy ẩn ý và nhiều hình tượng. Rất nhiều câu chuyện trong luận ngữ đã trở thành nối tiếng, là nguồn điển tích kinh điển trong văn học trung đại.
2.1.2 Điển cố từ sử bộ

Sử bộ là kho sách ghi chép về cuộc đời các nhân vật và sự kiện lịch sử, cũng là kho tàng vô tận của điển cố. Trong sử bộ có Nhị thạp tứ sử lưu truyền rộng rãi như Sử ký Tư Mã Thiên, Hán thư, Hậu Hán thư, Tấn thư… người ta thường vận dụng điển cố từ Sử bộ để so sánh chứng minh.
2.1.3 Điển cố từ Tử bộ

Tử bộ là kho sách của bách gia chư tử, ngoài Nho gia còn có Đạo gia, Phật gia, Pháp gia, Binh gia…
2.1.4 Điển cố từ Tập bộ

Tập bộ các sách về thơ văn, phê bình thơ văn, từ khúc. Vì số lượng quá lớn, nguồn thư tich cực kỳ phong phú, nên vô số câu văn câu thơ tong đó được dẫn dụng làm điển cố. Nhìn chung,  Kinh – Sử – Tử – Tập là nguồn thư tịch cổ to lớn, nội dung cực kỳ phong phú, chứa đụng vô số hình ảnh, câu chuyện, nhân vật, tư tưởng triết lý, bao gồm nhiều mặt về chính trị, xã hội, giáo dục, văn học, nghệ thuật,
2.1.5 Điển cố từ thơ ca

Thơ ca là nguồn tư liệu vô tận cho sự vận dụng điển cố, thể hiện dưới hình thức từ hay nhóm từ mượn ý, lời từ câu thơ hoặc bài thơ của người trước.
2.1.6 Điển cố từ văn học Việt Nam

So với nguồn điển cố Trung Quốc, điển cố lấy từ văn học Việt Nam không nhiều nhưng vẫn được khai thác sinh động. Nguồn điển cố này thường mang nội dung về các trận chiến oanh liệt, những sự kiện lịch sử nổi bật và các nhân vật lịch sử của dân tộc à khẳng định giá trị nền độc lập, tự chủ, tự cường của đất nước.
Điển cố Việt Nam với những hình tượng nhân vật lịch sử, nhân tài Việt Nam, nhân vật trong truyền thuyết dân tộc à đó là nét đẹp của người Việt anh hùng tài hoa, được khắc ghi trong những áng văn chương tươi đẹp của lớp hậu sinh.
2.1.7 Điển cố từ văn học dân gian

Điển cố lấy từ văn học dân gian Việt Nam nhiều nhất là được lấy từ ca dao, tục ngữ thường được vận dụng không ít trong sáng tác văn thơ. Điển cố loại này có phạm vi rộng được dùng nhiều nhất là điển cố có nội dung về thân phận – tình duyên – sinh hoạt trong cuộc sống…
2.2. Các kiểu khai thác điển cố

Khai vay mượn điển cố người sử dụng thường có các cách như:
+ Mượn tên người (mượn tên một nhân vật nào đó làm điển cố là hình tượng thường gặp trong văn chương cổ nhằm để so sánh và ca ngợi)
+ Mượn tên địa danh (mượn tên địa danh để chỉ tình cảnh)
+Mượn tên triều đại
+Mượn tên cung điện – đền đài
+Mượn tục lệ thói quen
+Mượn tên chức quan
+Mượn tên đồ vật
+Mượn các thuật ngữ (thường vay từ Kinh – Sử – Tử – Tập)
+Mượn tên khúc hát
+Mượn tên sách
+Mượn từ ngữ.
2.3 Các  thể loại văn học Việt Nam sử dụng điển cố chủ yếu

Điển cố có mặt hầu hết trong các thể loại văn học. Điển cố thường phải thay đổi cấu trúc để phù hợp với thể loại.
2.3.1 Điển cố trong thơ

Những bài thơ mang tính dân gian như nói về công việc đồng án, tả cảnh thường không dùng điển cố.
Những bài thơ trữ tình, vịnh sử, ngôn chí… thường dùng điển cố nhiều hơn
2.3.2 Điển cố trong tản văn

Tản văn tức văn xuôi không chịu sự chi phối của luạt thanh, vần, đối… nên vận dụng điển cố rất tự do và thường không nhiều.
2.3.3 Điển cố trong biền văn
Cấu trúc biền văn đòi hỏi phải đối xứng, hài hòa, thường dùng trong các bài phú, văn bản hành chính như: cáo, điếu, tế, chúc… à rất hay dùng điển cố
2.3.4 Điển cố trong hý khúc

Ở Việt Nam, hý khúc chủ yếu là hát bội. Lời hát bội đầy chất thơ, vừa trữ tình vừa hùng tráng, trang nghiêm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.  Có sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn cả ba thể loại tiêu biểu nhất: thơ trong lời hát, văn vần tỏng lời nói, văn xuôi.
2.4 Mục đích sử dụng điển cố

Các nhà Nho Việt Nam cũng như Trung Hoa đều thích sử dụng điển cố trong các tác phẩm của mình. Họ xem điển cố là phương thức đặc biệt để xây dựng câu thơ, câu văn.
Ø 
Tạo hình ảnh sinh động cho câu văn, tránh khô khan trần trụi: Xây dựng hình tượng nhân vật. Để miêu tả hoàn cảnh xã hội, chính trị. Để miêu tả hoàn cảnh tự nhiên Ø  Dùng điển cố để bọc lộ chí hướng Ø  Dùng điển cố để sự diễn tả được hàm súc, sâu sắc, lời ít ý nhiều Ø  Dùng điển cố để sự diễn tả được thanh nhã, tinh tế Ø  Làm ví dụ hay chứng cớ xác thực cho lập luận Ø  Tỏ sự uyên bác, cao thâm, úy phái hơn người
Kết luận

Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong tầm ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa về cả hai mặt: chủ động và bị động. Vì vậy những nét văn hóa phương Bắc đã ít nhiều tác động đến những ngõ ngách của đời sống người dân Việt. Một trong những ảnh hưởn đó là trong văn học.   Việt Nam là một nước nông nghiệp lúa nước, đối với người Việt thì lao dộng sản xuất gắn liền với họ nên những hiện tượng về thiên nhiên có liên quan trực tiếp đến đời sống sản xuất được người Việt rất quan tâm và khái quat đơn giản thành những cặp đối lập dựa trên quan niệm âm dương. Do tính chất công viẹc và cuộc sống yên tĩnh chốn làng quê nên người Việt luôn ít nói, kín đáo, sâu sắc, tinh tế, sống hài hòa với những mặt đối lập.  Và đức tính ấy đã được thể hiẹn qua đời sống tinh thần nhằm đạt tới cái thần của tư tưởng, tình cảm, tinh thần, đó là cái đẹp, cái hay, cái sâu mà bản thân điển cố cũng có đặc tính như vậy. Và điển cố luôn mang hai nghĩa: nghĩa đen – nghĩa bóng, nghĩa cụ thể – nghĩa trừu tượng, với cấu trúc theo quy luật âm dương, thích hợp với tư duyvà sự thể hiện trong con người Việt Nam nên được ưa chuộng sử dụng. Không chỉ vậy, cách diễn đạt trong ngôn ngữ Việt nam thường thiên về biểu đạt ý tưởng, nhấn manh đến cái thần, cái cốt lỗi, cái tinh hoa. Vì thế thường dùng tjơ ca để biểu hiện mà sử dụng điển cố trong thơ ca lại biểu hiện được nhiều hơn. Điển cố khi vào Việt Nam không chỉ rập khuôn theo nguyên tắc quen thuộc mà còn được thể hiện sáng tạo, để cho tư tưởng người Việt được trình bày rõ ràng.
Ngoài ra còn do sự ảnh hưởng của nền văn hóa no dịch phương Bắc nhằm đồng hóa nhân dân ta về mặt tinh thần mà tiêu biểu là trong sáng tác văn học.
Chương III: Ảnh hưởng trong văn học thời kỳ hiện đại

Sự phân chia giai đoạn trong phần này chỉ mang tính tương đối với hy vọng vấn đề được trình bày dễ tiếp cận hơn.
1.Khoảng từ nữa cuối thế kỷ XIX đến năm 1945

Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đã xảy ra một quá trình đứt gãy về mặt giai lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam và một mảng trong số đó là văn học. Nguyên nhân là do chính sách của thực dân Pháp muốn xóa bỏ tất cả những mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc cũng như các nước “đồng văn, đồng chủng” Á Đông, tạo điều kiện cho thực dân Pháp dễ dàng thực hiện chính sách đồng hóa, nô dịch. Về mặt văn tự, khoa cử, thực dân Pháp đã xóa bỏ chế độ khoa cử Nho gia cùng với chữ Hán – Nôm, thay vào đó là chế độ giáo dục theo kiểu phương Tây và chữ Pháp – chữ Quốc ngữ. Việc này đã tạo một đứt gãy lớn trong nền văn học Việt Nam vì các tác phẩm thơ văn trước kia đều được viết bằng hcưc Hán – Nôm. Đồng thời tạo điều kiện tiếp nhận văn học phương Tây, chủ yếu là văn học Pháp.
Tuy nhiên, trong những năm tháng này, các tác phẩm văn học Trung Quốc cùng với những tư tưởng tiến bộ vẫn được lan truyền ít nhiều đến Việt Nam. Đầu tiên là phong trào tân thư đầu thế kỷ XX, đã ảnh hưởng đến giới trí thức đương thời, tác động đến lòng tự hào dân tộc, tư tưởng tự do, dân chủ với các tên tuổi Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… cùng với các tác phẩm phong trào Ngũ Tứ, cuộc cách mạng Tân Hợi. Tiếp đến là các tác phẩm của Lỗ Tấn, Tào Ngu… mang tư tưởng thức tỉnh mạnh mẽ và đông đảo quần chúng ủng hộ. Đã từng có một phong trào dịch thuật rầm rộ các tác phẩm văn học cổ điển Trung Quốc qua chữ quốc ngữ được dấy lên khoảng những năm đầu thế kỷ XX (vì chúng không mang tư tưởng tiến bộ và gần gũi với văn hóa Việt – đã chịu ảnh hưởng Trung Quốc rất lâu)
Nhưng nhìn chung, giai đoạn này ảnh hưởng của văn học phương Tây vẫn là chủ đạo vì đây là xu hướng tất yếu của lịch sử cũng như từ sự phát triển nội tại của văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, trong phong trào tiểu thuyết, thơ mới… cái gốc văn hóa Việt vẫn còn và hiển nhiên, ảnh hưởng của Trung Hoa cũng hiện hữu tuy mờ nhạt.
2. Khoảng sau năm 1945 đến nay

Sự ảnh hưởng văn học Trung Hoa – Việt Nam được chuyển sang một giai đoạn mới do điều kiện chính trị – xã hội (chế độ xã hội chủ nghĩa, chiến tranh giành độc lập…). Văn học Trung Hoa giai đoạn này nhận được một sự quan tâm rất lớn từ phía các nhà dịch thuật, nghiên cứu của Việt Nam. Việc giới thiệu các tác phẩm mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc đến đông đảo bạn đọc được chú trọng như là một tất yếu của thời đại.  Chủ yếu là những tác phẩm của các nhà văn lớn như Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược…
Từ sau khi bắt đầu đổi mới khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, những chuyển biến kinh tế kéo theo những chuyển biến xã hội đã làm xuất hiện những trào lưu, tư tưởng mới. Việt Nam không những tiếp thu ảnh hưởng từ văn học Trung Hoa và Liên Xô mà còn mở cửa hội nhập với tinh hoa thế giới. Cũng trong giai đoạn này, văn học Trung Quốc có những chuyển đổi với tích cực với dòng văn học theo chủ nghĩa hiện đại đã bước vào giai đoạn thoái trào mở đầu cho giai đoạn văn học theo chủ nghĩa hậu hiện đại. Thời gian này mang tính tương đồng nhiều hơn là Việt Nam chịu ảnh hưởng một chiều từ Trung Quốc.
Ví dụ gần đây Trung Quốc xuất hiện trào lưu văn học Linglei được biết đến đầu tiên qua những tác phẩm của nữ tác giả Vệ Tuệ – là cây bút khởi đầu cho các sáng tác đậm chất bứt phá. Hưởng ứng trào lưu sáng tác này là một loạt các tác giả trẻ, như: Miên Miên, Cửu Đan, Hồng Ảnh, An Ni Bảo Bối, Xuân Thụ… Đề tài nổi bật trong các tác phẩm của họ là cuộc sống hôm nay với những cảm quan và nhận thức tân tiến. Giọng văn tự sự gần gũi, chủ yếu mang tính chất hiện thực từ chính đời sống trải nghiệm của bản thân, thể hiện tâm trạng bức bối, ảm đạm của lớp thanh niên trưởng thành trong thời đại mới nhưng vẫn phải chịu ràng buộc bởi những lề thói của xã hội cũ… Những tác phẩm của trào lưu văn học này đã được xuất bản ở Việt Nam ngày càng nhiều như: Búp Bê Bắc Kinh, Điên cuồng như Vệ Tuệ, Ảo Thành…

III. KẾT LUẬN

Văn học Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn đến văn học Việt Nam là điều hiển nhiên, không thể phủ nhận. Tuy nhiên nó không phải là sự rập khuôn hoàn toàn mà trong quá trình tiếp nhận, người Việt đã trên tinh thần dân tộc biến đổi những thể loại, biện pháp nghệ thuật cho phù hợp. Ảnh hưởng mạnh nhất và lâu dài từ Trung Quốc đến Việt Nam là trong thời kỳ văn học cổ trung đại. Thời gian này không những ảnh hưởng cả hình thức mà đôi khi có phần nội dung tư tưởng. Tuy nhiên trong giai đoạn văn học hiện đại đã có sự thay đổi do văn học Việt giao lưu với nhiều nền văn học khác ngoài Trung Quốc (phương Tây, Liên Xô…)
Quá trình chuyển biến quan hệ văn học giữa Việt Nam và Trung Quốc từ “đồng văn” sang “dị văn” cũng đồng thời là quá trình chuyển biến về quan hệ trên bình diện ý thức giữa “ta” và “người”, giữa tính chất khu vực và thế giới, giữa phạm trù ý thức văn học trung đại và
hiện đại… Trong buổi giao thời đó, văn học Trung Quốc đã có vai trò quan trọng đối với tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam và được ghi nhận trước hết vẫn như những yếu tố gần gũi, nội sinh.

Hết

 

 

 

ĐẠI HỌC AN GIANG

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

————-

Phùng Hoài Ngọc

TÀI LIỆU

VĂN HỌC TRUNG QUỐC

(Văn học Châu Á 1, mã số hp: HOL 502)

Biên soạn lại theo chương trình tín chỉ

Lưu hành nội bộ

AN GIANG 2011

MỤC LỤC

NỘI DUNG
Mục lục 

Lời giới thiệu

Bài thơ đề từ

Sơ lược lịch sử Trung Quốc

Chương 1 – Văn học trước Tần

1. Khái quát văn học dân gian

2. Thần thoại, truyền thuyết

3. Kinh thi

4. Khuất Nguyên và “Ly tao”

5. Bách gia chư tử và “Luận ngữ”

Ðọc thêm 1 Văn học Hán: Tư Mã Thiên với “Sử ký”, nhà thơ Ðào Tiềm với thơ, từ, nhà lý luận Lưu Hiệp với “Văn tâm điêu long”.

Chương 2. Ðường thi

Khái quát: Bối cảnh lịch sử xã hội. Đặc điểm thơ Ðường .

Ba nhà thơ tiêu biểu Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị

Những lời bình chọn lọc về Thơ Đường

Không gian nghệ thuật; Thời gian nghệ thuật

Luyện tập thực hành.

Ðọc thêm 2 Văn học Tống: Từ và Tô Ðông Pha.

Hai nhà tạp kịch thời Nguyên: Quan Hán Khanh, Vương Thực Phủ.

Chương 3. Tiểu thuyết cổ điển Minh Thanh

Tam quốc diễn nghĩa. Thủy hử truyện. Đông Chu liệt quốc. Tây du ký

Liêu trai chí dị. Nho lâm ngoại sử. Hồng lâu mộng

Chương 4. Khái quát văn học hiện đại và Lỗ Tấn

  1. Khái quát văn học hiện đại : 04 giai đoạn chính
  2. Lỗ Tấn và AQ chính truyện

Tổng kết văn học Trung Quốc.

Đọc thêm 3. Văn học sử Trung Quốc qui loại

Đọc thêm 4. Mối quan hệ gắn bó, song hành của văn học Trung Quốc- Việt Nam

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Bảng đối chiếu niên đại Việt Nam – Trung Quốc

Phụ lục 2. Danh sách 10 nhân vật văn hóa bình chọn

Phụ lục 3  Danh mục luận văn tốt nghiệp về VH Trung Quốc do biên giả hướng dẫn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

      Đọc tiếp »

Vi Tính

Posted: 16.10.2011 in Vi Tính

Giáo trình dạy vi tính dành cho nhân
viên làm việc ở các công ty TQ, bảng biểu – các loại giấy tờ và cách thực hiện
trong công ty

+ Excel 2007 – BanGong – Văn
phòng

http://www.mediafire.com/?orh8hyzzt1dbmlx

+ Excel 2007 – CaiWu – Kế toán Tài
vụ

http://www.mediafire.com/?ns7oy50qezlllzx

+ Excel 2007 – RenShi ZiYuan GuanLi
– Quản lý nhân sự

http://www.mediafire.com/?422lo128mnnu2yi

+ Excel 2007 – XiaoShou – Kinh
doanh

http://www.mediafire.com/?u253ghuem97gn21

– KaiJi JiHui Xue Excel 2007 – Mở
máy học Excel 2007

http://www.mediafire.com/?cylpn2y3r9p0p28

– KaiJi JiHui Excel 2007 DianZi
BiaoGe RuMen – Nhập môn bảng biểu Excel 2007

http://www.mediafire.com/?kzyg7dtj9cfzmi2

– CaiWu GuanLi BiHui EXCEL YingYong
100Li – 100 mẫu ứng dụng
trong Ecxel về quản lý tài vụ (thủ quỹ trong công
ty)

http://www.mediafire.com/?kumcm0nmhh2

– XingZheng Yu RenLi ZiYuan
GuanLi BiHui Office YingYong 100 Li – 100 mẫu sử dụng trong Office về quản lý nhân sự và
hành chính

http://www.mediafire.com/?kxznmjm35yy

Sách Chuyên Ngành

Posted: 16.10.2011 in Tài Liệu

1. Những mẫu đối thoại thường dùng trong giao dịch thương mại :

http://www.mediafire.com/?gcn73wufa0oxsgg

2. Những mẫu đối thoại thường dùng trong đàm phán thương mại

http://www.mediafire.com/?s6m71almtroajag

3. Nghiệp vụ xuất nhập khẩu – ngoại thương:

http://www.mediafire.com/?62m5ymh2ir16l2d

4. Sổ tay thư tín thương mại:

http://www.mediafire.com/?kaqci130yeu5xe5

5. Sách dành cho nhân viên chuyên ngành:

http://www.mediafire.com/?p6ghjc6x4fbe3va

6. Luật Kinh tế:

http://www.mediafire.com/?d8hv3531263q1al

7. Cơ sở luật kinh tế:

http://www.mediafire.com/?6ovi2tt9xdppwr4

8. Những công việc kế toán sơ cấp:

http://www.mediafire.com/?tvbbgxnd113l57h

9. Những công việc kế toán trung cấp:

http://www.mediafire.com/?7ix0whim0549x4h

10. GT thi kế toán năm 2010 – Quản lý tài vụ kế toán:

http://www.mediafire.com/?6iii2wtf5g8l4ph

11. 600 câu thường dùng trong phỏng vấn:

http://www.mediafire.com/?h1dd08eynjmngf7

12. Sách dành cho việc phỏng vấn công chức (TQ):

http://www.mediafire.com/?traos67sssnx35p

13.  Từ điển bằng tranh Tiếng Anh:

http://www.mediafire.com/?yj1az9wgvpd5bja

16. Văn hóa lịch sử TQ dành cho ngành du lịch:

http://www.mediafire.com/?y2h43fpesijw3ys

17. Những từ ngữ đang dần mất đi:

http://www.mediafire.com/?7ton27akf19ynwv

18. Các loại hình câu trong tiếng Hán:

http://www.mediafire.com/?4lm7aucx61a7dcj

19. 30 đoạn văn dịch trung cấp (Anh Hoa):

http://www.mediafire.com/?brkb6ia6udfsuzn

20. Từ điển phân biệt từ:

http://www.mediafire.com/?oh3pyjfz22v1ski

21. Từ điển cách xưng hô trong tiếng Hán:

http://www.mediafire.com/?ztwfcc0hdq1p6oo

Tiếng Quảng

Posted: 24.09.2011 in Tiếng Quảng
Mình thích tiếng Quảng vì khi nghe thấy nó khá thú vị
nên có ý muốn học . Mà tài liệu thì thấy rất ít . Mình thấy trên diễn đàn có
nhiều bạn cũng thích học . Vậy nên tại sao chúng ta ko cùng nhau học nhỉ …Đầu tiên là học phát âm– tài liệu học phát âm có ít quá … mình kiếm được tài liệu này nên up qua youtube share cho mọi người . Rất vui được làm quen với những bạn đã và đang học tiếng Quảng .

Các hệ thống chú âm : ( Cho ta
biết cách đọc – cách phát âm 1 từ bằng tiếng Quảng ) Hiện nay có khá nhiều hệ thống chú âm tiếng Quảng . Nhưng trong đó có 2 hệ thống chú âm mà theo mình chúng ta nên quan tâm đó là : Yale và Jyutping

Yale : Hệ thống chú âm này có thể nói là được sử dụng nhiều nhất hiện nay … do tài liệu cũ phần lớn được chú âm theo hệ thống này .

Jyutping : Hệ thống chú âm mới
này do Hiệp hội ngôn ngữ gì gì đó của Hồng Kông phát triển và được khuyến cáo là sử dụng ( được hỗ trợ bộ gõ chữ Hán bằng tiếng Quảng , làm tài liệu chuẩn sau này … đại loại vậy )

Mình thấy người Việt mình học tiếng Quảng phần lớn là dùng cách đọc tiếng Việt rồi chép lại để đọc tiếng Quảng … như thế vừa ko
chính xác vừa ko theo quy chuẩn nào … mỗi người ghi chú 1 kiểu … Để cùng giúp nhau học tập , chúng ta nên dùng những hệ thống đã được quy chuẩn , và được người công nhận .

Các bạn có thể tham khảo thêm về các hệ thống chú âm ở đây :
http://cpime.hk/pingjam/
http://humanum.arts.cuhk.edu.hk/Lexi…ables.php#main
http://www.cbs.polyu.edu.hk/VTP/hkword/t/t1.htm

Gõ chữ
Hán bằng phiên âm tiếng Quảng
:
Gõ online : http://cpime.hk/online/?type=2
Phần mềm dùng Offline : http://cpime.hk/

tiếng canto có 6 thanh âm:  第一聲,第三聲,第四聲,第六聲
http://www.cbs.polyu.edu.hk/VTP/hkword/t/t1.htm
Đây, tặng bạn link phiên âm tiếng Quảng
http://tiengquangdong.com/forumdisplay.php?f=13
hoặc click vào đây

(www.facebook.com/tiengquangdong
YM!:stevennguyenit )

Thanh

Posted: 13.09.2011 in Khác

Thanh :
Tiếng Trung có 4 thanh điệu đánh số
từ 1 đến 4 nên những người học tiếng Trung đôi khi họ hỏi nhau là thanh số mấy
để biết cách phát âm từ.
Đây là bảng cách phát âm :
Posted Image
Thanh
số 1: mā: là thanh không dấu đọc như bình thường , tuy nhiên phát âm
cao
Thanh số 2: má: đọc giống dấu sắc trong tiếng Việt , xuất phát từ trung
và cao dần
Thanh số 3: mă: đọc giống dấu hỏi mả , xuất phát từ trung , xuống
thấp rồi lên cao nhanh
Thanh số 4: mà: đọc giống dấu nặng mạ , xuất phát từ
cao về thấp
Còn 1 thanh nữa đó là 5 , thanh không dấu đọc bình thường như
de
Còn đây là cách đọc , bấm vào play nhé :
[FLASH WIDTH=600
HEIGHT=250]http://www.wku.edu/~shizhen.gao/Chinese101/animation/toner.swf[/FLASH]

Thanh
:
Tiếng Trung có 4 thanh điệu đánh số từ 1 đến 4 nên những người học tiếng
Trung đôi khi họ hỏi nhau là thanh số mấy để biết cách phát âm từ.
Đây là
bảng cách phát âm :
Thanh số 1: mā: là thanh không dấu đọc như bình thường ,
tuy nhiên phát âm cao
Thanh số 2: má: đọc giống dấu sắc trong tiếng Việt ,
xuất phát từ trung và cao dần
Thanh số 3: mă: đọc giống dấu hỏi mả , xuất
phát từ trung , xuống thấp rồi lên cao nhanh
Thanh số 4: mà: đọc giống dấu
nặng mạ , xuất phát từ cao về thấp
Còn 1 thanh nữa đó là 5 , thanh không dấu
đọc bình thường như de
Còn đây là cách đọc , bấm vào play nhé
:
*************
Các nguyên phụ âm :
Thực ra cái này chẳng cần nhớ
nhiều
Nguyên âm: Bao gồm: a, o, e, i, u, ü, ngoài ra còn có nguyên âm cuốn
lưỡi “er”
① Nguyên âm “i”:
– Vị trí 1: giống “i” tiếng Việt và không xuất
hiện sau các phụ âm: “z, c, s, zh, ch, sh, r”.
– Vị trí 2: đoc giống “ư”
trong tiếng Việt và chỉ xuất hiện sau “z, c, s”.
– Vị trí 3: đọc giống “ư”
tiếng Việt và nó chỉ xuất hiện sau “zh, ch, sh, r”.
② Nguyên âm “u”: đọc
giống “u” trong tiếng Việt.
③ Nguyên âm “e”:
– Vị trí 1: giống “ưa” tiếng
Việt, đứng sau “d, t, l, g, k, h” không kết hợp với các nguyên âm khác.
– Vị
trí 2: đọc giống “ơ” trong tiếng Việt, chỉ xuất hiện trước “n, ng, và khi ‘e’
đọc nhẹ”.
– Vị trí 3: đọc giống “ê” trong tiếng Việt, chỉ xuất hiện sau “i,
u”.
– Vị trí 4: đọc giống “ê” trong tiếng Việt, chỉ xuất hiện trước “i”.

Nguyên âm “o”: đọc giống “ô” trong tiếng Việt
⑤ Nguyên âm “a”: đọc giống “a”
trong tiếng Việt
⑥ Nguyên âm “ü”: đọc giống “uy” trong tiếng Việt.

Nguyên âm cuốn lưỡi “er”: đọc giống “ơ” trong tiếng Việt nhưng uốn cong
lưỡi.
Phụ âm: Bao gồm 22 kí tự để biểu đạt 22 phụ âm của tiếng phổ
thông.
1. b: (p) đọc giống “p” tiếng Việt nhưng âm hai môi, trong, không đưa
hơi.
2. p: (p’) đọc giống “p” tiếng Việt nhưng âm hai môi, tắc, trong, đưa
hơi.
3. m: (m) đọc giống “m” tiếng Việt.
4. f: (f) đọc giống “ph” tiếng
Việt.
5. d: (d) đọc giống “t” tiếng Việt.
6. t: (t’) đọc giống “th” tiếng
Việt.
7. n: (n) đọc giống “n” tiếng Việt.
8. l: (l) đọc giống “l“ tiếng
Việt.
9. z: (ts) tiếng Việt không có âm này, đọc âm đầu lưỡi trước, tác sát,
trong, không đưa hơi, khi phát âm đưa trước đầu lưỡi bịt chặt phía sau chân răng
trên cho hơi tắc lại, sau đó hạ nhẹ lưỡi xuống cho hơi ma sát, trong, đưa
hơi.
10. c (ts’) tiếng Việt không có âm này, đọc âm đầu lưỡi trước, tắc sát,
trong, đưa hơi, cách phát âm giống phụ âm “z” ở trên nhưng phải bật hơi
mạnh.
11. s: âm đầu lưỡi trước, sát, trong, khi phát âm, đầu lưỡi phí trước
đặt gần mặt sau răng trên, hơi cọ sát ra ngoài.
12. zh: (t,s) âm đầu luỡi
sau, tắc sát, trong, không đưa hơi, giống “tr” tiếng Việt.
13. ch: (t,s’) âm
đầu lưỡi sau, tắc sát, trong, đưa hơi, giống “zh” tiếng Việt.
14. sh: (,s) âm
đầu lưỡi sau, sát, trong, giống “s” tiếng Việt có uốn lưỡi.
15. r: (z,) âm
đầu lưỡi sau, sát, đục, giống “r” tiếng Việt cong lưỡi, chú ý không rung
lưỡi.
16. j: đọc giống “ch” tiếng Việt nhưng đọc sâu vào phía trong mặt lưỡi
hơn.
17. q: đọc giống “j” tiếng Việt khác là bật hơi mạnh.
18. x: đọc
giống “j” tiếng Việt khác là hơi không bị tắc lúc đầu mà chỉ ma sát rồi ra
ngoài.
19. g: (k) đọc giống “c” và “k” tiếng Việt, khác là bật hơi
mạnh.
20. k: (k’) đọc giống “g”, khác là bật hơi mạnh.
21. h: (x) đọc
giống “ng” tiếng Việt nhưng là âm cuốn lưỡi, sát, trong.
22. ng: (n,) đọc
giống “ng”, phụ âm này không đứng đầu làm thanh mẫu, chỉ đứng cuối một số vận
câu.
Quan tâm cái này là chính thôi :
ai – ai
ei – ây
ao – ao
ou
– âu
an – an
en – ân
ang – ang
eng – âng
ong – ung
ia –
i+a
ie – i+ê
iao – i+ao
iou – i+âu
ian – i+en
in – in
iang –
i+ang
ing – inh & yêng
iong – i+ung
uo – u+ô
uai – u+ai
uei –
u+ây
uan – u+an
uen – u+ân
uang – u+ang
ueng – u+âng
üe –
uy+ê
üan – uy+en
ün – uyn
***************
Cách Viết :
Thanh
:
Tiếng Trung có 4 thanh điệu đánh số từ 1 đến 4 nên những người học tiếng
Trung đôi khi họ hỏi nhau là thanh số mấy để biết cách phát âm từ.
Đây là
bảng cách phát âm :
Thanh số 1: mā: là thanh không dấu đọc như bình thường ,
tuy nhiên phát âm cao
Thanh số 2: má: đọc giống dấu sắc trong tiếng Việt ,
xuất phát từ trung và cao dần
Thanh số 3: mă: đọc giống dấu hỏi mả , xuất
phát từ trung , xuống thấp rồi lên cao nhanh
Thanh số 4: mà: đọc giống dấu
nặng mạ , xuất phát từ cao về thấp
Còn 1 thanh nữa đó là 5 , thanh không dấu
đọc bình thường như de
Còn đây là cách đọc , bấm vào play nhé
:
*************
Các nguyên phụ âm :
Thực ra cái này chẳng cần nhớ
nhiều
Nguyên âm: Bao gồm: a, o, e, i, u, ü, ngoài ra còn có nguyên âm cuốn
lưỡi “er”
① Nguyên âm “i”:
– Vị trí 1: giống “i” tiếng Việt và không xuất
hiện sau các phụ âm: “z, c, s, zh, ch, sh, r”.
– Vị trí 2: đoc giống “ư”
trong tiếng Việt và chỉ xuất hiện sau “z, c, s”.
– Vị trí 3: đọc giống “ư”
tiếng Việt và nó chỉ xuất hiện sau “zh, ch, sh, r”.
② Nguyên âm “u”: đọc
giống “u” trong tiếng Việt.
③ Nguyên âm “e”:
– Vị trí 1: giống “ưa” tiếng
Việt, đứng sau “d, t, l, g, k, h” không kết hợp với các nguyên âm khác.
– Vị
trí 2: đọc giống “ơ” trong tiếng Việt, chỉ xuất hiện trước “n, ng, và khi ‘e’
đọc nhẹ”.
– Vị trí 3: đọc giống “ê” trong tiếng Việt, chỉ xuất hiện sau “i,
u”.
– Vị trí 4: đọc giống “ê” trong tiếng Việt, chỉ xuất hiện trước “i”.

Nguyên âm “o”: đọc giống “ô” trong tiếng Việt
⑤ Nguyên âm “a”: đọc giống “a”
trong tiếng Việt
⑥ Nguyên âm “ü”: đọc giống “uy” trong tiếng Việt.

Nguyên âm cuốn lưỡi “er”: đọc giống “ơ” trong tiếng Việt nhưng uốn cong
lưỡi.
Phụ âm: Bao gồm 22 kí tự để biểu đạt 22 phụ âm của tiếng phổ
thông.
1. b: (p) đọc giống “p” tiếng Việt nhưng âm hai môi, trong, không đưa
hơi.
2. p: (p’) đọc giống “p” tiếng Việt nhưng âm hai môi, tắc, trong, đưa
hơi.
3. m: (m) đọc giống “m” tiếng Việt.
4. f: (f) đọc giống “ph” tiếng
Việt.
5. d: (d) đọc giống “t” tiếng Việt.
6. t: (t’) đọc giống “th” tiếng
Việt.
7. n: (n) đọc giống “n” tiếng Việt.
8. l: (l) đọc giống “l“ tiếng
Việt.
9. z: (ts) tiếng Việt không có âm này, đọc âm đầu lưỡi trước, tác sát,
trong, không đưa hơi, khi phát âm đưa trước đầu lưỡi bịt chặt phía sau chân răng
trên cho hơi tắc lại, sau đó hạ nhẹ lưỡi xuống cho hơi ma sát, trong, đưa
hơi.
10. c (ts’) tiếng Việt không có âm này, đọc âm đầu lưỡi trước, tắc sát,
trong, đưa hơi, cách phát âm giống phụ âm “z” ở trên nhưng phải bật hơi
mạnh.
11. s: âm đầu lưỡi trước, sát, trong, khi phát âm, đầu lưỡi phí trước
đặt gần mặt sau răng trên, hơi cọ sát ra ngoài.
12. zh: (t,s) âm đầu luỡi
sau, tắc sát, trong, không đưa hơi, giống “tr” tiếng Việt.
13. ch: (t,s’) âm
đầu lưỡi sau, tắc sát, trong, đưa hơi, giống “zh” tiếng Việt.
14. sh: (,s) âm
đầu lưỡi sau, sát, trong, giống “s” tiếng Việt có uốn lưỡi.
15. r: (z,) âm
đầu lưỡi sau, sát, đục, giống “r” tiếng Việt cong lưỡi, chú ý không rung
lưỡi.
16. j: đọc giống “ch” tiếng Việt nhưng đọc sâu vào phía trong mặt lưỡi
hơn.
17. q: đọc giống “j” tiếng Việt khác là bật hơi mạnh.
18. x: đọc
giống “j” tiếng Việt khác là hơi không bị tắc lúc đầu mà chỉ ma sát rồi ra
ngoài.
19. g: (k) đọc giống “c” và “k” tiếng Việt, khác là bật hơi
mạnh.
20. k: (k’) đọc giống “g”, khác là bật hơi mạnh.
21. h: (x) đọc
giống “ng” tiếng Việt nhưng là âm cuốn lưỡi, sát, trong.
22. ng: (n,) đọc
giống “ng”, phụ âm này không đứng đầu làm thanh mẫu, chỉ đứng cuối một số vận
câu.
Quan tâm cái này là chính thôi :
ai – ai
ei – ây
ao – ao
ou
– âu
an – an
en – ân
ang – ang
eng – âng
ong – ung
ia –
i+a
ie – i+ê
iao – i+ao
iou – i+âu
ian – i+en
in – in
iang –
i+ang
ing – inh & yêng
iong – i+ung
uo – u+ô
uai – u+ai
uei –
u+ây
uan – u+an
uen – u+ân
uang – u+ang
ueng – u+âng
üe –
uy+ê
üan – uy+en
ün – uyn
***************
Cách Viết :
1.Trái sang
phải , trên xuống dưới : Tam
Posted Image
2.Ngang trước dọc sau :
Thập
Posted Image
3.Cắt Nối ?
Posted Image
4.Phải trái
trước trái phải sau : Văn
Posted Image
5.Giữa rồi hai bên : Thủy

Posted Image
6.Bao : Hồi
Posted Image
7.Trái rồi
đóng Khung :Khẩu